Những lá thư trong ký ức

xr:d:DAGCAWmjdS4:5,j:1434820901092271970,t:24041009

LTS: Với thời gian, mọi thứ tưởng sẽ phai đi, thậm chí biến mất, nhưng với họ – văn nghệ sĩ, những kỷ niệm về bạn văn dường như luôn “sống”. Thời gian như càng giúp cho kỷ niệm ấy thêm sâu đậm. Chỉ là những lời nói, những cử chỉ, những việc làm nho nhỏ trong cuộc sống đời thường, hay chỉ là những trao đổi, chỉ dẫn về nghề cũng rưng rưng xúc cảm khi họ nhớ về những người bạn văn chương. Trong dòng lịch sử của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Nghệ An, luôn có những tâm tình nho nhỏ mà rưng rưng ấy.

Dưới đây là kỷ niệm của nhà văn La Quán Miên về những ngày đầu giao lưu với các văn nghệ sĩ tại Hội VHNT Nghệ An và cộng tác đăng bài. 

Vào đầu những năm 70 của thế kỷ trước, tôi bắt đầu “rụt rè” gửi những sáng tác (thơ, văn) của mình về Hội Văn nghệ Nghệ An. Năm 1971, đang sơ tán trong khu rừng sâu ở Tân Kỳ cùng Trường Trung học Sư phạm miền núi Nghệ An, tôi nhận được “thư” của nhà thơ Quang Huy. Thật ra thì đó là một “công văn” của Hội, bảo tôi làm đơn vào Hội (theo mẫu). Dưới “mẫu” đó là mấy dòng “thư” của nhà thơ viết bằng bút mực đen, chữ đẹp, đều, hoạt. Nội dung thông báo bài thơ Anh được về thăm của tôi được đưa vào Tuyển tập thơ chống Mỹ của Hội; và bài thơ Xuống núi – ta đi đánh Mỹ được in vào tờ “Tin sáng tác”. Rồi anh khuyên hãy viết “khỏe vào”, và nhớ gửi bài về cho Tạp chí của Hội. Khỏi phải nói là tôi sung sướng đến nhường nào! Ngòi bút của tôi bắt đầu “cày” sột soạt trên trang giấy, những lúc có cơ hội…

Sau chiến tranh, cơ quan Hội chuyển về Vinh. Tôi “làm” một chuyến về Hội để được “tận mắt” gặp gỡ các nhà văn, nhà thơ mà mình hằng nghe tiếng. Tôi được gặp Trần Hữu Thung, Minh Huệ, Bá Dũng… Trở về dạy học ở các trường rẻo cao, thỉnh thoảng tôi lại nhận được thư của các nhà văn, nhà thơ đó. Những lá thư này các ông viết sau khi nhận được những sáng tác của tôi, nói là muốn trao đổi với tôi về một vấn đề gì đó. Cũng có khi là do những sáng tác của tôi “đụng chạm” đến những vấn đề “tâm huyết” của các ông, vấn đề mà các ông “đang suy nghĩ”. Cũng có khi đơn giản chỉ là do “muốn trao đổi” vậy thôi… Bây giờ nghĩ lại mới thấy đó là một “hiện tượng” có tính chất “giai đoạn”, chỉ có thời gian từ những năm 80 của thế kỷ XX trở về trước, người ta mới hay “viết thư” như thế! Thư của ông Trần Hữu Thung (lúc đó là Chủ tịch Hội) dài mấy trang, viết trên giấy nâu, chữ nghiêng, mực xanh loãng. Ông khuyên tôi muốn sáng tác thành công thì phải “say mê”… Thư của ông Minh Huệ (là Chủ tịch Hội sau ông Thung) cũng dài mấy trang, viết bằng bút bi, thỉnh thoảng mực lại chảy ra một cục (do bút hồi đó chất lượng kém). Ông không bàn cụ thể về vấn đề gì, cũng không khuyên bảo gì, chỉ “động viên” viết. Giọng văn rất hồ hởi… Thư của anh Bá Dũng thì bàn về “nghề” hẳn hoi. Anh “hướng dẫn” quan sát nhân vật như thế nào, mắt, mũi, cái nhíu mày, gãi tai… Đặt câu hỏi như thế nào để “khai thác” nhân vật, làm cho nhân vật “tự bộc lộ” mình…

Những lá thư của các bậc đàn anh ấy tôi giữ gìn như là “bảo bối” được trong một thời gian dài. Nhưng rồi trong cuộc sống cũng có lúc “sơ sẩy”: bom đạn, mưa bão, di chuyển, thời gian… Những lá thư ấy đã bị rách, nhòe, hỏng, mất… Cuối cùng đến bây giờ tôi chỉ còn nhớ chúng trong ký ức mà thôi. Thật tiếc! Nếu bây giờ mà tôi còn giữ được chúng thì hay biết mấy!

Cỏ biến thành ong và đom đóm

Năm 1976, tôi đi một ngày đường từ miền Tây Nghệ An xuống Vinh, bụng thầm mong gặp được các nhà thơ, nhà văn nổi tiếng mà bấy lâu nay mình vô cùng ngưỡng mộ.
Xuống bến xe, tôi tìm vào cơ quan Hội Văn học Nghệ thuật Nghệ Tĩnh ở gần Cổng Chốt, sau nẻo đường mọc lút cỏ dại. Chiến tranh mới qua thôi mà. Tôi vào cơ quan Hội, lúc đó đã chiều tối, chỉ thấy một người đang lui cui nấu nướng ở cuối nhà lợp lá, khói um cả lên. Thấy tôi, người đó đứng dậy hỏi, giọng Bắc. Thì ra, đó là nhà thơ Triệu Nguyễn, tác giả Bài thơ về cô gái và hoa cà phê… Tôi sững người nhìn nhà thơ trong bộ đồ màu cỏ úa, dáng dong dỏng cao.

Tối hôm đó, nhà thơ rủ tôi ra Cửa Nam uống trà, hồi đó gọi là “chè chén”. Trời tối om, xa xa le lói ánh đèn dầu. Tôi theo nhà thơ bước qua rào, rẽ đám cỏ rậm rạp mà đi. “Mình ra đề tài thế này nhé! Bỗng nhà thơ đột ngột ngoái lại: “Ta làm thơ về ‘cỏ thành Vinh’ đi. Ai làm hay thì ‘thưởng trà’, ai làm dở thì…” Cỏ thành Vinh quả là mênh mông. Nhưng tôi thấy đom đóm sao mà nhiều lạ thường, ở quê núi tôi chưa thấy thế bao giờ. Chúng bay đầy thành phố, lập lòe trong cỏ, trên các lối đi, trong các khu nhà cao tầng đang xây…

Hôm sau, nhà thơ Triệu Nguyễn hỏi tôi đã làm xong chưa. Tôi gãi trốc, gãi tai đưa cho nhà thơ xem… bài thơ Đom đóm và Ong. “Ha, ha, ha!…”, anh cười phá lên. xem nào.
“Bao nhiêu chấm sáng lập lòe bay vào thành phố Đỏ
Trăng chưa lên, điện nhấp nháy xa xa
Nghe rậm rịch người về sau khói lửa
Tôi và anh lạc vào vùng đom đóm tháng Ba”.
Hừm! Bài khác:
“Già bản hãy về Vinh
Xem nhà không có mái
Sừng sững như núi đá
Cầu thang đi bên trong
Người đông như tổ ong
Cửa sổ không đếm hết
Tầng dưới sống với đất
Tầng trên sống với trời”…

Triệu Nguyễn sau chuyển ra Quảng Ninh, nay tôi vẫn chưa một lần gặp lại, mặc dầu tôi vẫn được đọc thơ, truyện và tiểu thuyết của anh. Nhớ anh, tôi lại nhớ tới chuyện “cỏ” biến thành “ong” và “đom đóm” này. Vậy mà đã hơn 33 năm rồi…

La Quán Miên