Johannes Robert Becher ( được mệnh danh là “một tượng đài vĩnh cửu trong nền văn học XHCN của Đức”. Ông để lại cho đời hơn 150 tác phẩm trên nhiều lĩnh vực như kịch, bút ký, tiểu thuyết, lý luận, thơ ca.
Trong toàn bộ trước tác đồ sộ của ông, có một bài thơ rất ấn tượng, nó xuất sắc cả về nội dung tư tưởng và cấu tứ. Đó là tác phẩm “Bài thơ về ba người” sau đây:
Tên sĩ quan kêu lên:
“Hãy chôn sống thằng Do Thái!”
Nhưng người Nga bướng bỉnh trả lời: “Không!”
Chúng tức thì quăng anh xuống hố
Nhưng người Do Thái bướng bỉnh nhìn:
“Không!”
Tên sĩ quan quát lên:
“Hãy chôn sống luôn hai đứa!”
Người lính Đức bước lên và nói: “Không!”
Tên sĩ quan hét lên:
“Hãy ném nó vào nơi hai đứa!
Chôn quách đi! Thế mà cũng đòi làm người Đức!”
Và người Đức đã chôn sống một người Đức.
Súc tích, ngắn gọn, nhưng bài thơ mang sức nặng tư tưởng lớn. Một câu chuyện được kể lại trong bài thơ, như một hoạt cảnh trong một vở kịch. Có 4 nhân vật được nhắc đến trong tác phẩm (tên sĩ quan, người lính Đức, người Nga, người Do Thái), nhưng độc giả hình dung còn có thêm những nhân vật khác, là những người lính đang trong quân ngũ. Tất cả đang chứng kiến và thực thi một cuộc hành quyết.
Ngay từ những dòng đầu, tác giả đặt người đọc vào một bối cảnh căng thẳng, nơi cái ác được thể hiện qua mệnh lệnh tàn bạo của viên sĩ quan: “Hãy chôn sống thằng Do Thái!”. Mệnh lệnh được yêu cầu – giết người Do Thái một cách man rợ là chôn sống, nhưng người Nga đã cất tiếng phản đối. Chỉ bằng những câu thơ ngắn gọn, Becher cho thấy bối cảnh lịch sử thế giới lúc bấy giờ với chính sách diệt chủng Holocaust mà phát xít Đức thực hiện trong Thế chiến II. Liên Xô là lực lượng chủ chốt chống lại Đức Quốc xã, nên người Nga trong bài thơ đã mạnh mẽ phản kháng yêu cầu của tên sĩ quan Đức. Hình phạt là cả hai người (người Do Thái và người Nga) cùng bị khép vào tội chết, và một người lính Đức được ra lệnh chôn sống họ. Tuy nhiên, người lính Đức này, một người cùng phe cánh với tên sĩ quan, lại dũng cảm cất tiếng phản kháng. Chính anh ta đã bị hành quyết. Bài thơ kết thúc bằng câu: “Và người Đức đã chôn sống một người Đức”.

Có lẽ câu chuyện chỉ diễn ra trong thoáng chốc, đủ để các nhân vật nói được vài lời thoại như trong bài, nhưng nó đã tạo nên một sự ám ảnh khủng khiếp: sự tàn bạo của chiến tranh và chủ nghĩa phát xít khi nó diệt chủng những con người vô tội. Tuy nhiên, ý nghĩa và sức nặng của bài thơ nằm ở chỗ, trong bối cảnh chiến tranh có thể tước đoạt đi nhân tính, biến những con người thành công cụ của sự hủy diệt như thế, vẫn có những con người có lương tri. Từ chối thi hành mệnh lệnh bất công tàn bạo, người Nga đã chọn đứng về phía con người, ngay cả khi biết cái giá phải trả là mạng sống của chính mình. Hành động phản kháng ấy làm dấy lên vòng xoáy bạo lực tiếp theo khi viên sĩ quan ra lệnh chôn sống cả hai.
Cao trào của “vở kịch” lên đến cao điểm khi đến lượt người lính Đức bị giao nhiệm vụ. Nhưng một lần nữa, sự giằng co giữa bổn phận với mệnh lệnh vô nhân đạo và lương tri con người lại xuất hiện. Người lính Đức, vốn bị đặt trong guồng máy của chiến tranh đầy giết chóc tang thương, cũng đã cất lên tiếng nói của lương tâm: “Không!”. Lời từ chối của anh có sức mạnh lớn hơn, bởi nó không chỉ chống lại mệnh lệnh mà còn phủ nhận chính hệ tư tưởng tàn ác của phát xít Đức. Đây chính là khoảnh khắc chiến thắng của nhân tính, khi con người nhận ra rằng không có một lý tưởng nào đáng để đánh đổi đạo đức và lòng nhân ái.
Và một cái chết nữa lại được chỉ định: “Chôn quách đi! Thế mà cũng đòi làm người Đức!”. Cái chết của người lính Đức phơi bày sự phi lý của chiến tranh: một người Đức bị chính đồng bào của mình giết chết, trong chiến dịch chống lại người Do Thái, chỉ vì đã hành động như một con người có lương tri. Bi kịch của anh, của những người Đức có lương tri không còn nằm ở sự tàn bạo của kẻ thù bên ngoài, mà chính là sự tha hóa của những con người trong cùng một dân tộc.
Becher đã đặt ba nhân vật – người Do Thái, người Nga và người lính Đức – vào một tình huống thử thách, nơi mà nhân tính và tội ác được phơi bày rõ nét. Người Do Thái, người Nga chống lại mệnh lệnh của tên sĩ quan, qua đó cho thấy sự kiên cường chống lại tội ác nói chung và chủ nghĩa phát xít nói riêng, nhưng khi người lính Đức dám hy sinh chính mạng sống của mình, can đảm đối mặt với cái chết được báo trước, anh đã trở thành một biểu tượng của nhân tính, của lương tri vẫn đủ sức mạnh soi sáng cho thế giới này khỏi màn đêm tối tăm đôi khi chính con người tạo dựng.
Cấu tứ của bài thơ chặt chẽ và thú vị. Các khổ thơ phản ánh câu chuyện theo chiều hướng mâu thuẫn tăng tiến, cùng với đó là các cặp đối thoại song song bao chứa các từ “chôn” (“chôn sống”) với “không”, thể hiện hai tuyến nhân vật đại diện cho hai loại người: phi nhân tính và có nhân tính. Tuy nhiên, hai tuyến nhân vật đó, hai loại người đó lại không trùng khớp hoàn toàn với hai chiến tuyến là chủ nghĩa phát xít và phe đối lập. Chính sự không trùng khớp đó đã làm lộ rõ sự phi lý, tàn ác và man rợ của chiến tranh trong thế chiến thứ hai: sự diệt chủng của Đức Quốc xã cuối cùng lại mang lại mang bi kịch cho chính nước Đức, người Đức. Con người, nếu cứ để sự tàn bạo của mình được lộng hành, thì đến một lúc chính nó bị mắc trong cạm bẫy mà mình giăng ra, chính nó tự hủy diệt.
Ngày nay, bài thơ vẫn còn nguyên giá trị khi con người vẫn phải đối diện với những lựa chọn đạo đức trong các cuộc xung đột, bất công và áp bức. Dù bối cảnh hiện tại đã thay đổi, tinh thần nhân văn trong bài thơ vẫn là lời nhắc nhở mạnh mẽ về quyền được làm người và trách nhiệm bảo vệ nhân phẩm con người.
Vân Quỳnh- Uyên Phương



















