Quán không có biển hiệu đèn LED màu mè. Chỉ một tấm bảng gỗ mít cũ treo ngang tầm mắt, chữ CÀ PHÊ ÐẤT sơn trắng đã bong tróc. Chữ ÐẤT mờ trước, chữ CÀ PHÊ còn lại lơ thơ, như thể có ai đó cố tình giữ lại phần dễ uống mà gạt đi phần khó nuốt của cuộc đời.
Ông Tư là chủ quán. Trước khi pha cà phê, ông từng là người “vẽ” ra đất trên những tờ bản đồ hành chính.
Cái quán nằm ở một vị trí mà những kẻ sành sỏi gọi là “vị trí kim cương”. Một mặt nhìn ra trục lộ chính, mặt kia nhìn thẳng sang trụ sở hành chính mới xây lừng lững. Ngày xưa, miếng đất này là phần dư ra sau bao lần điều chỉnh địa giới, chẳng ai ngó ngàng. Thế mà giờ đây, nó thành cái rốn của những cuộc làm ăn.
Ông Tư ngồi sau quầy bằng đúng tư thế của ba mươi năm qua: trên chiếc ghế đẩu gỗ đinh hương. Ghế thấp. Mặt gỗ sẫm màu vì mồ hôi tay và những mùa nắng. Chỗ ngồi lõm xuống, vừa một thân người lâu năm không chịu đứng dậy khỏi vị trí của mình.
Ông ngồi ghế cán bộ Ðịa chính thị trấn Ðời Mới gần ba mươi năm. Nhiều luật bất thành văn hình thành trong quãng đó. Không ít thửa đất vì thế vặn vẹo dưới tay ông, nhưng mọi việc vẫn trôi qua, ông “hạ cánh an toàn.”
Rồi sáp nhập, tinh giản. Quy trình đổi. Cách làm đổi. Hồ sơ trả theo luật, không còn theo phong bì như trước. Ông không theo kịp. Áp lực dồn lại. Ông sinh trầm cảm.
Có hôm, ông hét lên giữa quầy khi không có ai trước mặt:
– Cha tao chết chưa xanh cỏ mà đã đứng đó thúc ép.
Chả là, cha ông trước lãnh đạo tỉnh này, thét ra lửa nên việc ông làm phụ trách Ðịa chính lâu năm ở thị trấn Ðời Mới là dễ dàng. Nó không cần học vấn trình độ gì nhiều, cứ vẽ và nhận. Thi thoảng mới phải xắn quần lội ruộng đo đạc.
Ngày nghỉ hưu non, ông không mang theo bằng khen, chỉ xin mang cái ghế ấy về. Người ta cười: “Cái ghế mục ấy thì báu bở gì”. Nhưng với ông Tư, ngồi lên nó, ông mới thấy mình còn “vị”. Hơn nữa chiếc ghế bằng gỗ tốt đóng theo dáng ghế đẩu có thành tựa lưng vững chắc rất cần với ông bởi cái lưng ông vì ngồi nhiều mà đã vôi hoá nhiều đốt sống. Lắm lúc trở trời đau trệt! Ông chỉ biết tựa vào ghế.
Cà phê ở quán ông Tư không có máy ép cà phê nguyên chất thời thượng. Chỉ có phin. Thế nhưng tư duy nhạy bén của ông thể hiện ở chỗ mở Cà phê Ðất rất thức thời. Chỉ cái tên nó đã khác hẳn quán khác.
Ông pha chậm, đôi bàn tay gầy guộc châm nước sôi theo vòng tròn đúng tâm. Từng giọt cà phê đen đặc rơi xuống đáy ly: Tách… tách… tách… Nhịp rơi ấy như nhịp đập của thị trường. Khi đất sốt, giọt cà phê dường như rơi nhanh hơn, nóng hổi và kịch tính. Khi thị trường đóng băng, giọt cà phê đặc quánh lại, lạnh ngắt trên miệng ly.
Khách đến đây không ai gọi menu. Chỉ có đen hoặc sữa. Họ đến để nghe “mùi đất”.
Trong quán không có nhạc, chỉ có tiếng thìa chạm vào thành gốm và tiếng lật bản đồ sột soạt. Người ta không hỏi nhau sức khỏe, chỉ hỏi: “Mảnh ấy ra sổ chưa?”, “Chỗ kia sắp có dự án phải không?”.
Ông Tư ngồi trên chiếc ghế đẩu, nghe hết. Ông hiểu luật ngầm của đất như hiểu những vân gỗ đinh hương dưới mông mình. Ngày xưa, ông là “cửa ngõ” để người ta đi tắt. Giờ, ông là cái trạm dừng chân cho những cơn mơ đổi đời.
Dạo này, thị trấn náo nhiệt hẳn. Những người vốn chỉ quen cầm phấn, cầm cuốc, cầm bút giờ đều cầm theo một tờ bản đồ quy hoạch. Cô Nguyệt dạy văn ở trường huyện, môi lúc nào cũng tô son đỏ thẫm như màu mận chín, tay xách túi da báo. Ngày trước, cô đến quán ông Tư với cuốn sổ tay chép thơ, ngồi lặng lẽ bên cửa sổ. Nhưng từ ngày đất sốt, cuốn sổ tay ấy biến thành cuốn sổ đỏ photo và danh sách bảng giá.
Cô không còn nói về vẻ đẹp của bóng trăng trong thơ Hàn Mặc Tử. Cô nói về “vẻ đẹp” của những lô góc hai mặt tiền. Giọng cô Nguyệt vẫn ngọt, cái giọng dẻo quẹo của người đứng lớp, nhưng giờ đây nó dùng để thuyết phục phụ huynh học sinh bán vườn, bán ao.
“Anh chị cứ giữ đất làm gì, đời mấy tí, cho cháu nó đi du học có phải rạng danh không?” – Cô nói, mắt lấp lánh như hai mảnh kính vỡ.
Cơn ám ảnh về đất biến cô thành một con người khác. Cô sợ những ngày không có tiếng tinh tinh báo tiền hoa hồng. Ðêm nằm, cô không mơ thấy cánh “cò” bay lả, cô mơ thấy những ranh giới, những mốc lộ giới cắm phập xuống lòng người. Cái buổi chiều cô cãi nhau với anh Phó Chủ tịch Công đoàn, cô đã gào lên: “Ðạo đức không ăn được, nhưng đất thì có!”. Lúc đó, khuôn mặt thanh tú của người giáo viên bỗng trở nên nanh nọc, vặn vẹo dưới ánh điện mờ của quán Cà Phê Ðất.
Ấn tượng nhất là bác Quàng – nông dân chân lấm tay bùn xịn.
Ban đầu bác chỉ ghé cho vui. Uống ly cà phê đen, ngồi nép ngoài rìa. Thấy người hỏi đường thì chỉ. Không chèo kéo. Ai hỏi đất nào, bác nói đúng chỗ ấy. Vậy mà khách lại tìm bác nhiều nhất.
Mỗi lần giao dịch xong, chủ đất dúi vào tay bác một khoản. Có lần bằng giá một con bê. Có lần tròn trịa như cả con bò. Bác gấp tiền bỏ vào túi áo bộ đội đã sờn. Về nhà, bác dắt thêm một con bò buộc cạnh chuồng cũ. Lúc đầu vợ bác giật mình. Sau quen.
Chuồng bò dựng thêm. Một con thành ba. Ba thành bảy. Rồi thành cả đàn. Người trong xóm đi qua, đứng lại đếm.
– Chuyện lạ! Lão Quàng gàn đổi đời.
Bác nghe thế thì cười.
Có hôm ngồi quán, bác nói bâng quơ:
– Cả đời làm nông dân không bằng sáu tháng làm “cò”.
Rồi bác chép miệng:
– Ðất “đẻ” ra bò là có thật, bà con ạ.
Bác kéo một hơi điếu cày. Tiếng rít khô, dài. Khói thuốc bốc lên lãng đãng. Trong làn khói mỏng, tiếng điện thoại lại reo ở một bàn khác.
Ông Tư ngồi trên ghế đinh hương, nghe câu “đất đẻ ra bò” rơi xuống như một hạt cà phê đã chín.
Chứng kiến nhiều câu chuyện đổi đời từ đất, ông thấy mình chưa được. Ông hiểu thị trường chẳng kém ai, vậy mà người đổi đời không phải ông. Ông biết mình không thể thành “cò”. Chỉ trỏ, hớt tay trên – ông không quen. Nếp nhà còn trong người. Làm thế thấy thấp. Lũ “cò vạc” này xưa chạy vạy theo ông đút phong bì để làm cho nhanh trích lục đất. Còn mơ mình mới làm như thế – Ông nghĩ.
Nhưng giàu thì phải giàu.
Ông nhớ chuyện trong họ. Cụ cố ngày xưa là địa chủ. Ðất rộng mênh mông đến tận bờ đê sông Hồng. Sau này đất đi hết, chuyện chỉ còn trong lời kể. Nhưng cái ý nghĩ rằng nhà mình từng là người có đất, ông chưa bao giờ quên.
Không thể làm cò thì phải làm chủ đất.
Ðầu cơ nghe có vẻ xấu, nhưng suy cho cùng cũng là nắm cơ hội. Tiền gửi ngân hàng còn trượt giá, chứ đất thì nằm yên đó. Ý nghĩ ấy nằm trong đầu ông như một thửa đất chưa ai hỏi tới.

Ông nghe chuyện ngôi nhà của bà Lan vào một buổi trưa mưa rào gõ lộp độp mái hiên quán.
Bà Lan từng là chủ tịch huyện. Ung thư mang bà đi đã lâu. Ngôi nhà để lại cho hai người con trai. Miếng đất ấy, theo cách người ta nói, là đất vàng: mặt tiền rộng, thế đất vuông, nằm ngay trục đường chính đang lên. Giá trị không còn tính bằng mét vuông nữa, mà tính bằng xăng ti mét vuông.
Lòng tham nảy sinh nhanh hơn cả giấy tờ thừa kế. Lời qua tiếng lại ầm ĩ giữa hai anh con trai, có lúc hàng xóm sang can. Rồi đến một buổi chiều, trong căn nhà ấy, tranh cãi từng xăng ti mét để chia cho đều, xung đột ngấm ngầm bùng lên: một cú đánh trúng đầu. Người anh chết tại chỗ. Ðêm đó, trong chính căn nhà ấy, người em thắt cổ trên tầng 4.
Hai mạng người cho một miếng đất.
Quán nghe xong im một lúc. Không phải vì sợ, mà vì ai cũng hiểu.
Ngôi nhà bỏ hoang. Rao bán. Hạ giá. Vẫn khó bán. Người ta tránh vì sợi dây, tránh vì cái chết còn mới.
Ông Tư bắt đầu để ý.
Ông gọi bác Quàng – nông dân lại, nói nhỏ:
– Bác rảnh thì hỏi hộ tôi cái nhà bà Lan xem rao bao nhiêu.
Vài hôm sau, bác đặt ly cà phê xuống:
– Nhà đối diện vừa bán hai mươi tỷ. Còn nhà bà Lan, rao hai mươi. Nhưng nếu bán thật chắc mười tám.
Chiều hôm ấy ông đi bộ qua khu nhà. Ði chậm. Qua rồi quay lại. Ðứng bên kia đường nhìn sang. Ðất vuông. Mặt tiền rộng. Không vướng quy hoạch. Phía sau còn cả sân vườn rộng rãi, thừa sức tạo thành biệt phủ.
Trong đầu ông hiện lên con số rất rõ:
Hai mươi lăm tỷ.
– Bán được. Không phải không bán được, mà là chưa gặp người.
Ông thở ra, gần như cười.
– Lũ mê tín.
Ông đứng lâu trước căn nhà hoang.
– Tiền đây chứ đâu.
Ý nghĩ ấy bắt đầu chuyển động. Bất giác một người từ tầng 4 nhìn xuống, ông nhìn lại nhưng không thấy gì. Thần hồn át thần tính – ông lại cười mỉm.
Ông không nói với ai. Ông rút từng cuốn sổ tiết kiệm trong ngăn tủ gỗ cũ. Gia sản đi qua ba đời. Cộng thêm khoản trợ cấp vừa nhận. Cộng lại cũng chỉ đủ một nửa giá trị căn biệt thự.
Nửa còn lại, ông mang bìa đỏ đến ngân hàng. Cậu giám đốc tiếp ông trong phòng riêng. Hai người quen nhau từ những lần cậu ghé quán – cũng để bán đất cho ai đó.
– Em xem giúp anh cái này.
Cậu giám đốc lật bìa, xem kỹ, rót nước.
– Tài sản sạch. Cái quán Cà Phê Ðất anh muốn vay thêm cũng được, huống gì từng ấy.
Hồ sơ đi nhanh. Mọi thứ hợp lý.
Một buổi sáng, tiền giải ngân.
Ông Tư ký vào biên bản nhận nợ. Nét chữ thẳng.
Giá chốt mười bảy phẩy tám tỷ. Người bán đồng ý ngay.
Ông bước ra khỏi phòng công chứng, đứng dưới nắng.
– Hời.
Trong đầu ông hiện lên một ý nghĩ: phen này cả thị trấn sẽ biết Tư rỗ làm giàu bằng cách nào. Không cần cò. Ðất tự sinh lợi nếu biết chờ.
Ông sửa nhà: sơn mới, điện kéo lại, nhà vệ sinh thay, sàn gạch sáng. Căn nhà thay da.
Ông leo lên tầng 4 vào căn phòng mà cậu chủ đã thắt cổ. Cửa mở. Ánh sáng tràn vào. Trần sạch. Xà ngang trống.
Không nghe mùi tử khí. Chả thấy âm khí gì. Dương khí tràn ngập sau khi mọi thứ sáng bóng.
– Người ta dọa nhau cả thôi.
Ông bước ra ban công, nhìn xuống con đường.
Hai mươi lăm phẩy năm tỷ.
– Bớt năm trăm triệu gọi là lộc. Dễ bán như chơi.
Nhưng có một điều ông không nghĩ tới.
Căn nhà quá im lặng.
Ông không ra mặt. Ông gọi bác Quàng sang quán:
– Việc bán nhà, bác đứng ra giúp tôi. Giá cứ theo tính toán. Bán được, tôi biếu bác cả một đàn bò.
Bác tròn mắt. Xoa hai bàn tay vào nhau.
Bác đưa khách đến xem nhà. Khách trong huyện, thị xã, Hà Nội, có hôm cả người Nghệ An ra. Khách đi từ tầng một lên căn nhà bốn tầng. Dẫm nền gạch mới. Sờ lan can còn mùi sơn.
– Nhà thế này mà để hoang phí quá.
Có người hỏi:
– Sao chủ không ở?
Bác đáp thật:
– Nhà có chuyện cũ. Nhưng đất thì không có tội. Ai không mê tín mua rất hời. Giá còn lên nhiều nữa.
Người đến xem đông, người hỏi mua ít.
Một tháng… Hai tháng… Sáu tháng!
Căn nhà vẫn chưa có người chốt. Ông Tư bắt đầu sốt ruột.
Ðến kỳ trả lãi, ngực ông nặng. Ông lấy tiền lãi quán bù vào. Lương hưu cộng thêm vẫn thiếu. Ông vay mượn chỗ quen, vay ngắn, nghĩ bán xong sẽ trả.
Tháng sau nữa, tiền lãi vẫn đến đúng ngày. Giấy báo ngân hàng đặt trên bàn, mỏng nhưng nặng. Tối, quán vắng. Chỉ còn đèn vàng. Ông ngồi trên ghế đinh hương, tính đi tính lại.
– Chỉ là chưa gặp người.
Nhưng câu ấy không còn chắc. Ngoài kia tiếng xe thưa dần. Căn nhà bốn tầng cửa đóng im. Lần đầu ông không thấy nó đẹp. Ông chỉ thấy nó đứng đó. Như một khoản nợ. Ông bắt đầu giảm giá.
Xuống hai mươi lăm tỷ.
Rồi hai mươi bốn.
Rồi hai mươi hai.
Giảm giá thành phản xạ. Giá giảm bao nhiêu, người ông giảm bấy nhiêu. Quần áo rộng dần. Dây lưng siết thêm một nấc. Sáng ông pha cà phê xong là quay vào trong.
Gần đến một năm ông hạ xuống hai mươi.
Bác Quàng do dự:
– Giá này sát rồi đấy bác.
Ông gật:
– Sát thì mới bán được.
Nhưng vẫn không ai chốt. Ðất ngoài thị trấn bắt đầu chùng xuống. Người bán nhiều hơn người mua. Tin về quán chậm rãi.
Ông lại rơi vào trầm cảm. Mất ngủ. Cáu bẳn. Có hôm ông quay sang chửi cái ghế đẩu vì nó đứng lệch:
– Ðứng cho tử tế! Tao đi đâu là mày theo riết! Có mà tao đi chết mày cũng đi theo à?
Một tối, cô Nguyệt dạy văn ở lại quán muộn buồn bã vì lâu nay cô cũng không còn tinh tinh hoa hồng.
– Bác ơi, dạo này đất xuống dữ lắm. Hết sốt rồi.
Ông không đáp.
– Nhà bác sửa lại đẹp thật. Nhưng người ta ngại chuyện cũ.
Cô dừng rồi tiếp:
– Người đầu cơ cũng sợ. Không phải mê tín, mà là rủi ro.
Ông nhấc ly cà phê, tay run nhẹ.
– Hay bác để em tìm khách mua kinh doanh. Làm văn phòng, khách sạn mini, cho thuê.
Cô nói thật, không dỗ. Ông gật rất khẽ.
Một hôm, mấy đứa choai choai tìm đến quán. Không ngồi, không gọi cà phê. Ðứng dựa xe ngoài cửa. Ông nhìn là biết: đám cho vay nặng lãi.
Ông vay chúng để trả lãi ngân hàng. Ban đầu vài chục. Rồi trăm. Lãi chồng lãi.
Chúng đến đúng lúc quán vắng:
– Ðến ngày rồi đấy chú.
Ông bỗng lên cơn, mặt đỏ bừng:
– Chúng mày ăn hiếp người già à? Tao là con cán bộ có công! Bố tao…
Ông nghẹn lại. Ông biết mình vừa lôi bố ra như một tờ giấy cũ.
Một đứa nói đều:
– Chú vay tiền tụi con lúc cần thì ngon ngọt lắm. Giờ đến hạn chú trả đi. Chửi bới làm được gì.
Nó nhìn quanh quán, nhìn cái bảng CÀ PHÊ ÐẤT.
– Ba ngày nữa nhé chú.
Chúng quay xe đi. Quán lại im.
Ông đứng một mình. Hơi thở gấp. Cổ họng khô. Ông nhìn ra con đường, nơi căn nhà bốn tầng đứng im.
Lần đầu tiên, ông thấy sợ. Sợ mình không còn đường lùi.
Cả ngày nắng tháng Bảy đổ lửa xuống những con đường nhựa mới làm, hắt hơi nóng lên những thửa đất vừa kịp kẻ vạch quy hoạch. Thị trấn Ðời Mới hừng hực đến tận chiều. Những bức tường bê tông hấp thụ nắng, giữ lại mùi khô khốc của tiền.
Buổi chiều hôm đó, một làn gió mát rượi bất chợt thổi qua, quét đi lớp nhễ nhại trên người ông Tư. Ông đứng trước căn biệt thự bốn tầng, lòng nhẹ hẳn. Trước cổng, một chiếc xe Land Cruiser đời mới mang biển xanh 80-B đỗ ngay ngắn, thân xe đen bóng phản chiếu ánh hoàng hôn. Chỉ riêng sự hiện diện của nó cũng đủ làm căn nhà tăng thêm giá trị.
Ông xách theo chiếc ghế đẩu đinh hương. Chiếc ghế cũ theo ông từ quán cà phê sang tận đây để có cái ngồi khi ký hợp đồng mua bán.
Người bước xuống xe đi vào nhà mặc sơ mi trắng, đóng thùng trong chiếc quần cắt may vừa vặn. Không phù hiệu. Giày da đen, mũi bóng. Cách điềm tĩnh của người quen đứng trong phòng máy lạnh.
Anh Hà.
Ngày trước, khi bố ông Tư còn làm cán bộ lãnh đạo tỉnh, Hà là thư ký riêng. Sau này Hà chuyển ra trung ương. Nghe đâu làm trong một cơ quan quan trọng của Chính phủ.
Hà bước vào quán, kéo ghế ngồi bàn gần quầy. Không gọi cà phê. Nhìn thẳng ông Tư:
– Bác để cho em căn biệt thự ấy nhé.
Ông Tư bỡ ngỡ.
– Em mua để sau này về hưu có chỗ về quê ở. Tiền bạc đáng mấy so với vị trí ấy. Ðất đai giờ hiếm. Bác sửa lại đẹp quá. Em đã cho người coi rất kỹ rồi.
Ông Tư nghe mà tai ù đi. Mọi thứ trong quán như sáng hẳn lên: cái bàn gỗ cũ, cái phin đang nhỏ giọt tí tách, tấm bảng treo ngoài cửa.
Ăn nhau ở số. Ông cười. Nụ cười lâu rồi mới trở lại.
– Giá nguyên hai mươi sáu tỷ. Thôi, anh em trong nhà, tôi bớt cho chú năm trăm triệu gọi là lộc.
Hà gật đầu ngay:
– Vâng. Em đặt cọc năm tỷ luôn. Hợp đồng làm chắc chắn. Biên bản em chuẩn bị sẵn rồi.
Họ bắt tay.
Ngoài đường, người qua lại đông dần. Trong đầu ông hiện ra rất nhanh những con số: trả ngân hàng, trả nợ nặng lãi, đời nhẹ lại…
Ông xách chiếc ghế đẩu lên, đặt nó đúng vào vị trí cần thiết lúc này. Chưa bao giờ nó nặng như thế. Tiếng gỗ chạm nền gạch nghe cộc một cái khô khốc, cắt ngang sự im lặng của đêm.
Ông Tư giật thột tỉnh!
Căn biệt thự trắng tinh, phăng phắc. Không xe biển xanh. Chẳng có biên bản nào.
Ðêm ấy, trăng rằm tháng Bảy sáng đến nhợt nhạt. Thứ ánh sáng ấy không ấm áp mà lành lạnh, phủ xuống thị trấn một màu trắng xác xơ.
Ngực ông nặng như có ai đặt lên đó một tảng đá ranh giới. Ông đứng dậy, nhìn chiếc ghế đẩu đinh hương. Nó đứng đó, vững chãi và lặng lẽ giữa căn nhà tối.
Nó mang theo hơi ấm của ba mươi năm công chức, mang theo những toan tính, những bổng lộc và cả những sai lầm.
Lần đâu tiên, ông đứng cả hai chân lên ghế. Tầm mắt ông cao lên, nhìn thấy toàn cảnh thị trấn, thấy cái quán Cà Phê Ðất nhỏ bé góc đường đã bị căng dây ngân hàng như những dải khăn tang, thấy những thửa ruộng đang dần bị bê tông hóa.
Dưới chân ông, đất vẫn nằm đó. Lạnh lùng và bất biến.
Ông Tư nhắm mắt. Hình ảnh những giọt cà phê đen đặc hiện ra. Tách! Giọt cuối cùng đã rơi. Phin đã cạn nước.
Rầm!
Chiếc ghế đẩu đinh hương ngã sõng soài trên nền gạch. Nó nằm đó, trơ trọi và vô dụng dưới ánh trăng tan.
Tô Giang















