Con đã đi hơn nửa chặng đường của cha

Cổng trường THPT Nam Đàn 2 hôm nay

Sáu mươi năm của một ngôi trường – dài như một đời người, nhưng lại trôi qua trong khoảnh khắc khi nhìn lên sân trường hôm nay, nơi ba thế hệ trong gia đình tôi cùng chung một dòng chảy ký ức. Đó là ngôi trường THPT Nam Đàn 2 (1965-2025)

Cha tôi là học sinh khóa 1 của Trường Cấp 3 Nam Đàn 2, đóng tại vùng Chín Nam (các xã Nam Trung, Nam Phúc, Nam Kim, Nam Đông, Nam Thịnh, Nam Phong, Nam Dương, Nam Sơn, Nam Hoành của huyện Nam Đàn cũ), nay là xã Thiên Nhẫn, tỉnh Nghệ An.

Cha kể, hồi đó là những năm chiến tranh ác liệt, với những mái nhà tranh đơn sơ, bàn ghế tạm bợ tại xóm Bại (nay là xóm Vũng Chùa), xung quanh là các chiến hào tránh bom. Khi ấy, đường đến trường là những chiến hào, lớp học tạm bợ trong dân, học trò còn nhiều thiếu thốn, nhiều đứa bạn của cha còn nhịn đói đi học, nhưng mắt ai cũng sáng lên niềm tin và sự ham thích tới trường. Trong bối cảnh thấp thỏm vì máy bay Mỹ oanh tạc, các bạn của cha ở xa tận các xã Nam Kim, Nam Đông, Nam Cường không thể đến học, lớp trống vắng. Một số bạn không thể theo học đã rời ghế nhà trường lên đường nhập ngũ. Giọng cha trầm lại: “Lứa của cha, đúng lúc có chủ trương không gọi đi lính mà tạo điều kiện hết sức để vào đại học. Thế nhưng, chiến tranh đang ác liệt, đất nước mang nhiều đau thương, nhiều bạn học và cả thầy giáo của cha đã chủ động viết thư xin đi lính ra trận… Nhiều người đã ra đi mãi mãi….”

Cổng trường THPT Nam Đàn 2 trước năm 2010

Cha tôi lớn lên từ những năm tháng giản dị mà kiên cường, đi trong chiến tranh kiên trì theo con đường học hành. Những năm tháng học tập giữa bom đạn ấy đã trở thành ký ức không thể nào quên, gắn liền với truyền thống hiếu học và tinh thần vượt khó của các thế hệ học sinh nhà trường. Mỗi khi nhắc lại, giọng cha trùng lắng, nhưng ánh mắt luôn đầy tự hào.

Đến lượt tôi – học sinh khóa 35 (1999 – 2002). Ngôi trường lúc ấy đã khác: với hai dãy nhà cấp 4 phía trước, phía sau đã có một dãy nhà tầng khang trang; bề thế hơn, rợp bóng cây, với những gốc phượng già như minh chứng cho thời gian của ngôi trường, rộn ràng tiếng trống trường vang giữa những buổi sáng sương mỏng. Năm tôi học lớp 10 cũng là năm tên trường Cấp 2 – 3 Nam Đàn 2 được đổi tên thành trường THPT Nam Đàn 2 (năm đầu tiên tách hai cấp THCS và THPT tại ngôi trường này). Thực tế, tôi đã gắn bó với ngôi trường này suốt 4 năm THCS và 3 năm THPT. Suốt 7 năm ấy đủ cho tôi nhiều kỉ niệm giản dị, mộc mạc và thân thương  với thầy cô, bạn bè. Nhà tôi cách trường không xa, đi bộ khoảng 5 phút, mùa mưa rét cũng như nắng, mọi hoạt động đến trường của tôi thuận tiện hơn các bạn ở những xã lân cận rất nhiều. Tôi bước tiếp con đường mà cha đã đi, mang trong mình những câu chuyện của cha như hành trang lặng lẽ. Có những lúc tôi tự hỏi: liệu mình có đủ may mắn để sống trọn vẹn như cha, để giữ được niềm tin yêu trường mến lớp như thế!

Niềm ấp ủ ước mơ ngày nào của cô học trò nhỏ được tiếp niềm đam mê của thầy cô đã thành hiện thực. Giờ đây, gần 20 năm tôi gắn bó trên bục giảng, nơi miền núi xa xôi, khi mọi điều kiện trường lớp không được thuận lợi như quê mình bây giờ, tôi càng đồng cảm hơn với học trò, càng hiểu thêm chặng đường gian nan của cha ngày ấy.

Thời gian trôi nhanh đến mức một ngày tôi nhận ra, con trai tôi – đứa trẻ lên ba ngày nào khi tôi dẫn đi qua, tôi từng chỉ tay và kể cho con về ngôi trường mẹ học ngày xưa – nay đang là học sinh khóa 60 của trường. Con đứng đúng vào dấu mốc tròn trịa của trường, hệt như định mệnh. Nhìn con khoác lên mình màu áo xanh học trò, bước những bước chân vô tư qua hành lang nơi ngày xưa cha và tôi cũng từng đi qua, lòng tôi bỗng thảng thốt: Con đã đi hơn nửa chặng đường của cha.

Cha – tôi – và con trai. Ba thế hệ nối nhau qua sáu mươi năm, như ba chiếc lá xanh trên cùng một cành cây, trải qua nắng mưa khác nhau nhưng chung một gốc rễ.

Cổng trường THPT Nam Đàn 2 hôm nay

Đi nửa chặng đường xa xôi của cha không chỉ là nối tiếp một truyền thống; đó còn là hành trình con viết tiếp giấc mơ của người đi trước. Ở đó có bóng dáng của cha tôi – học trò khóa đầu tiên với những khởi nghiệp gian nan; có tuổi trẻ của tôi – khóa 35 với bao kỷ niệm thời áo trắng “Gọi mãi tên nhau”; và có con trai tôi – khóa 60, nơi những ước mơ mới đang bắt đầu nảy nở.

Ngày kỷ niệm 60 năm, nhìn lại, tôi hiểu một điều: con đường học tập và trưởng thành không bao giờ khép lại. Nó chỉ được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, bằng niềm tin, tình yêu, và ký ức của một ngôi trường đã đi cùng gia đình tôi gần như cả cuộc đời.

Và tôi tin, một ngày nào đó, khi con tôi trưởng thành, con sẽ lại kể cho thế hệ sau về chặng đường mà ông và mẹ đã đi – để rồi những đứa trẻ ấy tiếp tục bước, tiếp tục mơ, tiếp tục gìn giữ và vươn cao vươn xa từ ngôi trường thân yêu này.

Sáu mươi năm – một vòng tròn đủ đầy, nhưng hành trình của tình yêu và tri thức vẫn còn dài lắm. Con đi nửa chặng đường của cha – và tương lai sẽ là phần con tôi viết tiếp.

Nguyễn Thị Thập