Bản Yên Hòa cách không xa biên giới Việt – Lào. Tên gọi có phần khác lạ so với những khu dân cư lân cận như Xiềng Tắm, Xốp Tụ, Piêng Pèn, Nhọt Lợt… Đó là những cái tên bằng tiếng Thái, dù là bản của người Mông, Nhọt Lợt chẳng hạn. Ở xã Mỹ Lý (huyện Kỳ Sơn) có Yên Hòa và bản Hòa Lý giáp với với huyện Tương Dương là có tên được đặt mới từ cuối thế kỷ 20.
Yên Hòa nằm tựa lưng vào núi, nhìn ra sông Nậm Nơn. Từ đây đi thêm một quãng ngắn nữa thôi, đến bản Cha Nga thì sông Nậm Nơn trở thành ranh giới tự nhiên giữa hai nước Việt – Lào. Đến quãng Yên Hòa, con sông phình rộng ra nhưng vẫn chảy xiết vì độ dốc khá lớn. Từ con đường liên thôn ngang qua bản, khi tắt máy xe, tôi có thể nghe được tiếng dòng nước rì rào như tiếng thác đổ. Mùa Hè, dòng nước có phần hiền dịu hơn nhưng vẫn là trở lực lớn với thuyền bè. Chỉ những chiếc xuồng máy ngót hai chục sức ngựa trở lên mới có thể chở theo người đi ngược con nước.
Nhớ hồi cuối 2009, tôi lần đầu ngược sông Nậm Nơn. Khi qua bản Yên Hòa, nước sông xanh trong đến nỗi có thể nhìn rõ đáy. Một vài phụ nữ ra sông hái rêu về chế biến món ăn. Đó có thể là thời kỳ đẹp đẽ sau cùng mà chúng ta có thể thấy được ở con sông. Chỉ một năm sau đó, khi Nhà máy Thủy điện bản Vẽ tích nước, có những thời điểm, nước ngập đến gần bản Yên Hòa, nuốt trọn cả khúc sông. Những khung cảnh cách đây hơn chục năm thi thoảng vô tình trở về trong tâm tưởng tôi, đẹp như mộng. Tôi vẫn nhớ cảm giác ngỡ ngàng của mình khi ngồi thuyền ngó lên thấy một tòa tháp cao vượt lên hẳn so với những ngôi nhà sàn thấp tè ở bản Yên Hòa. Đó là một công trình kiến trúc cổ hiện vẫn còn rất ít thông tin.
Nay thì những chiếc xuồng máy cơ bản đã trở nên hết thời. Đường sá còn gồ ghề đèo dốc nhưng xe máy cũng chạy được. Từ gần năm nay, người ta đưa vào sử dụng cây cầu treo nối hai bờ sông. Xuồng máy giờ chỉ phục vụ việc đánh cá, chở củi, chở nông sản trên rẫy về nhà.

Ngọn tháp ngày nào vẫn còn đó. Từ trên con đường liên thôn ngó qua bản phía tả ngạn Nậm Nơn, nó vẫn là công trình kiến trúc có chiều cao vượt trội, dù rằng cạnh đó đã có một ngôi trường mầm non. Bên tháp là một cây bồ đề cổ thụ có chiều cao tương đương tòa tháp. Vẻ nguy nga thì vẫn vậy, chỉ có con người là thay đổi. Đó là cảm tưởng khi tôi gặp lại ông Lô Thanh Nghệ. Vị lãnh đạo xã ngày nào giờ đã nghỉ hưu. Ông trở về công việc thời trẻ của mình là chăm sóc đàn bò, trông nhà cho con cái đi làm ăn xa.
Ông Nghệ không ưa chụp ảnh, dù rằng trong cuộc điện thoại trước đó, ông có hứa rằng sẽ hướng dẫn tôi tham quan tòa tháp. Ông bảo thời làm cán bộ, cánh nhà báo chụp ảnh nhiều rồi. Giờ muốn được ẩn danh. Ừ, cũng phải thôi. Đến lúc nào đó người ta cần phải giữ cho mình được riêng tư bởi không gian mạng và công nghệ đang ngày càng làm thay đổi cuộc sống con người. Nhiều khi nó mang đến những bất an nữa. Có lẽ đó là điều khiến vị cán bộ xã ngày nào không muốn “bị” chụp ảnh.
Tôi đem ý nghĩ này chia sẻ với ông Nghệ. Ông bảo, anh nghĩ như thế có phần hơi sâu xa, nhưng cũng hợp lẽ rồi. Nói rồi ông lão chỉ cho tôi xem ngọn tháp, công trình kiến trúc mà tôi chỉ mới có thời gian để ngó thoáng qua hơn chục năm về trước. Ông Nghệ cũng từng nghĩ nó sẽ chẳng bao giờ thay đổi, Bởi suốt những năm tuổi trẻ, ông thấy nó không bị tác động nhiều bởi con người. Vậy mà nay, chính quyền địa phương phải đặt biển cảnh báo công trình sắp sập. Chân tháp sạt lở để lộ vô vàn những viên gạch đỏ. Trên thân tháp có hàng chục những lỗ thủng. Nghe đâu đó là vết tích của những người từng tìm đến moi tìm cổ vật gây ra. Trước đây, có người còn tìm cách phá một bên tháp để moi tìm cổ vật bên trong. Hậu quả dẫn đến sự xuống cấp trầm trọng như hiện nay.
Dẫu vậy thì trong sự hoang phế đó, tháp Yên Hòa vẫn toát lên là một công trình kiến trúc Phật giáo độc đáo. Tháp cao gần 30m, đỉnh nhọn hoắt. Tháp gồm 3 tầng chính. Tầng chân, hình lăng trụ, 4 mặt, được xây bằng gạch nung. Tầng trên có tạc những hoa văn khá tinh xảo và thanh thoát. Đặc biệt là hai bức tượng hình vũ nữ đang chắp tay, mắt hướng về phía trước. Tầng chóp và cũng là đỉnh tháp có kết cấu đơn giản như một ngọn bút chĩa lên trời xanh.
Một số cán bộ văn hóa cho rằng, tháp Yên Hòa là công trình Phật giáo dòng Tiểu thừa, phát triển ở khu vực Đông Nam Á từ thế kỷ thứ VII trở đi. Tháp Phật giáo dòng Tiểu thừa gồm tháp mộ và tháp thờ. Tháp Yên Hòa là tháp thờ được xây dựng theo phong cách tháp Nhạn của người Champa xưa kia. Có người cũng tin rằng, tòa tháp này có tuổi đời lên đến cả nghìn năm.
Đó là những thông tin ít ỏi về tòa tháp kỳ lạ này. Người ta tin rằng tòa tháp tồn tại trước khi người Thái đến sinh cơ lập nghiệp nơi này. Theo trí nhớ của ông Nghệ thì trước kia khu vực này là rừng già. Bản Yên Hòa ngày nay vốn ở một địa điểm khác không xa nơi đây. Những năm 80 của thế kỷ trước, làng bản liên tục gặp phải dịch bệnh. Khi thì bạch hầu, lúc lại sốt rét. Người ta đã tổ chức không biết bao nhiêu lễ cúng nhưng chẳng qua khỏi. Theo tập quán của nhiều cộng đồng thiểu số, nếu đất này không còn sinh sống được thì tìm chốn khác mà lập bản. Người ta tìm đến địa điểm hiện tại phát quang, dựng nhà cửa. Tình cờ tòa tháp phát lộ ra. Ông Nghệ là một trong những người có cơ may nhìn thấy toà tháp từ trước khi người ta đến lập bản. Chỉ những người hay đi rừng mới biết đến.
Từ ngày về nơi mới, bản làng yên vui hẳn. Người ta thấy một tòa kiến trúc lạ thì cùng nhau thờ cúng. Đêm đêm, từ một vật thể hình tròn trên ngọn tháp phát ra một luồng sáng màu xanh dịu mắt. Như thế là thiêng liêng lắm. Nhiều người nghĩ vậy và ngọn tháp cũng từ đó trở nên nổi tiếng trong vùng. Ngoài những người tìm đến vì ngưỡng vọng, thì cũng có kẻ tham lam săn tìm cổ vật. Đến nỗi viên thủy tinh ở đầu chóp ngọn tháp cũng bị bắn vỡ. Ban đầu, dân bản nghĩ rằng người xấu đến phá hoại chốn linh thiêng này là vì đố kỵ hoặc một mục đích khó hiểu nào đó. Về sau, có người mang tượng Phật đến trả, người ta mới vỡ lẽ là ở mỗi lỗ thủng từng có một bức tượng nhỏ xíu.
Chuyện đã nhiều năm về trước. Thế hệ trẻ sau này chẳng còn mấy ai biết đến. Người ta chỉ chứng kiến cảnh xuống cấp của tòa kiến trúc mà tiếc nuối. Anh Lô Văn Dũng, Bí thư Chi bộ bản Yên Hòa đã gần bước sang tuổi ngũ tuần nhưng cũng chỉ nghe kể lại. Anh Dũng ngoài làm cán bộ bản còn phải sinh nhai bằng nghề làm rẫy và đánh cá trên sông Nậm Nơn. Chị vợ hễ rảnh việc nông lại ngồi dệt vải. Dù đã di dời qua nhiều nơi nhưng dân bản Yên Hòa vẫn giữ nghề dệt vải. Người ta trồng dâu trên nương. Có những cây dâu đã thành cổ thụ. Nghĩa là còn lâu đời hơn cả nơi cư trú hiện nay. Dù có di chuyển làng bản, nhưng người ta không đi quá xa. Người ta vẫn có thể dễ dàng tìm về nương dâu, đồi cọ được tổ tiên trồng. Có những khu vườn “sống” lâu hơn cả người già nhất bản.
Cô bé Giang Anh, con gái út anh Dũng gần như cả buổi chỉ ngồi nghe câu chuyện của cha và khách. Giang Anh 16 tuổi, đáng nhẽ đã xong lớp 10 nhưng cô gái trẻ chọn cách nghỉ học sớm để đi học nghề. Người cha khuyên cũng không được. Cô bảo học lên nữa cũng chẳng được làm cán bộ, thì chọn con đường vào đời sớm thôi. Ấy vậy mà dịch Covid – 19 ập đến. Toan tính “vào đời sớm” của cô gái bản tiêu tan. Cô chỉ còn cách phụ mẹ việc nhà chờ dịch lui mới tính chuyện học nghề, kiếm việc. Dù chưa phải đã trưởng thành, nhưng Giang Anh bảo đã thấy “cái gương” của nhiều người học về rồi thất nghiệp, hoặc đi làm công nhân. Như thế bất quá tìm một lối đi khác.
Mặt trời đã gần đứng bóng và câu chuyện của chúng tôi đến hồi vãn. Thực tình thì chẳng biết nói gì hơn ngoài chuyện bản mường, mưu sinh. Mà bản mường mùa này cũng vắng. Thanh niên phần lớn vẫn đi làm ăn xa. Dịch dã, nhưng họ vẫn phải bám trụ lại chốn phố thị vì miếng cơm, manh áo và những khoản nợ ngân hàng để làm nhà, sắm sanh tiện nghi. Người ở lại cũng đã vào mùa làm rẫy. Tôi gặp được anh Dũng là bởi anh phải ngồi nhà vì một vết thương trên chân trái do con dao phát rẫy gây ra.
Tôi rời bản Yên Hòa. Từ con đường liên thôn, tôi có thể nhìn rõ ngọn tháp với những lỗ thủng. Tòa kiến trúc như một kẻ vô can bị hứng chịu những vết thương từ những kẻ vô tâm. Nó vẫn cố gượng đứng đó, nom cô quạnh giữa bản mường vắng lặng.
Hữu Vi
(Bài đã đăng trên Tạp chí Sông Lam số 14, tháng 6/2021)















