26.7 C
Vinh
Thứ Tư, Tháng 4 15, 2026
Trang chủ Văn xuôi Giải cứu những bức tranh

Giải cứu những bức tranh

Chiều giữa hạ. Tôi bật tỉnh sau ít phút chợp mắt. Cơ thể tôi rã rời nhưng quá khó để có giấc ngủ trọn vẹn. Mấy tháng liền, hễ chợp mắt là tôi lại gặp “họ”. Có ai đó đang sống trong não tôi, muốn nói gì đó với tôi bằng thứ ngôn ngữ khó hiểu. Những giấc mơ kỳ quái, nơi tôi gặp những bức tranh của chính mình. “Họ” trò chuyện, kêu gào, rồi lầm lũi, cười nhạo tôi. Lẫn trong giấc mơ, tôi thấy cha bước vào phòng khi tôi đang ngủ. Ông sững sờ sợ hãi khi bắt gặp những bức tranh vương vãi. Tôi thấy cha hét lên, rồi lẩn tránh. Ngay sau đó, mẹ đã thu dọn hết mớ màu vẽ của tôi. Không cọ, không màu, không giấy… Ðến cả một cây chì cũng bị ném vào lửa. Những bức tranh tàn tro. Mẹ lật ga trải giường, báu vật của tôi cuối cùng đã bị lộ. Là bức chân dung người phụ nữ rất trẻ, màu mắt lạ mà mãi khi lớn lên tôi mới biết đó là sắc xanh biển khơi ngày nắng. Mẹ nhìn bức tranh rất lâu, tôi đã hi vọng. Khẽ thở dài, mẹ xé toạc khung, ngón tay đeo nhẫn của mẹ cong lên, đóa mận hoa khắc trên mặt nhẫn bỗng sáng trắng trước ngọn lửa. Bức chân dung bị lửa bén nhanh đến nỗi tôi không kịp thốt lên lời nào. Như bị chôn chân xuống sàn nhà, tôi há hốc nhìn mẹ, đớn đau đến suy sụp.

“…Cô ấy là ký ức đẹp nhất của con! Ðôi tay cô ấy cũng mỏng và lạnh như đôi tay mẹ! Tại sao? Khi con vừa lớn lên, mẹ trở về thì cô ấy biến mất? Tại sao?”

“Cô ấy chết rồi! Giữ mãi một người chết làm gì!”

***

“Ði thôi!”

Anh cả đứng trong phòng từ bao giờ, chỉ chờ tôi tỉnh giấc là lên tiếng. Anh nhăn nhó nhìn bốn bức tường bị cạy từng mảng, để lại những nét vẽ. Những bức tường anh vừa sơn sửa hôm qua, che đi những nét vẽ trước đó. Tôi nhớ mình đã muốn hỏi anh rằng đi đâu, nhưng môi mấp máy không nên lời, tôi quá mệt.

Tôi bước ra hành lang. Cha mẹ tôi đang ngồi ở phòng khách cùng người đàn ông mặc áo blouse. Chiếc máy điều hòa già nua vù vù, quạt phun sương bật hết công suất, nhưng dưới cổ ai nấy vẫn nhễ nhại mồ hôi. Tôi vuốt mặt mình, ướt rượt. Người đàn ông xa lạ khiến tôi có cảm giác quen thuộc như đã gặp đâu đó trong giấc mơ hoặc trong số những người quen của tôi. Mẹ tôi vào phòng riêng, trở ra với chiếc ba lô đã chật căng, bà lạnh lùng đặt nó vào giữa phòng khách rồi đi xuống bếp. Tôi nhìn cha, ông cầm chén trà đưa lên miệng, mắt dõi ra cửa sổ.

Tôi ngước lên đồng hồ, đã năm giờ chiều. Anh cả nhìn tôi trìu mến, ánh nhìn từ ký ức tuổi thơ tôi, đã lâu lắm rồi.

“Ði nào, kẻo muộn mất.”

Người đàn ông đứng dậy cầm chiếc cặp da màu đen, vừa bắt tay cha tôi vừa chào với ánh mắt đầy tự tin. Cha tôi vẻ mặt mệt mỏi, gật đầu với gã. Mẹ tôi vẫn ở dưới bếp. Anh cả xách ba lô, khoác vai tôi đi ra ngoài ngõ. Dưới bóng cây hoàng lan rơi đầy những cánh hoa ươm nắng, chiếc xe con đậu sẵn với gã lái xe đang gật gù theo nhạc. Anh cả cho ba lô của tôi vào chiếc ghế trống bên cạnh gã lái xe, rồi ôm tôi rất chặt, hứa hẹn.

“Anh sẽ đến thăm em! Sẽ mang đến thứ em muốn!”

Người đàn ông mở cửa xe đợi. Cơ thể tôi đờ đẫn, suy nghĩ không dứt về những âm thanh ma quái trong cơn ác mộng lướt qua gương mặt người đàn ông đang mỉm cười. Da mặt hắn chuyển màu đỏ rần, có lẽ vì trời nắng oi khó chịu. Dưới đôi môi đang nhếch kia, tôi thoáng thấy hai chiếc răng hai bên khóe miệng hắn như đang dài ra, trong đôi mắt hắn có những vằn đỏ.

Tôi bước vào xe, người đàn ông cũng bước vào ngồi ngay bên cạnh. Xe lăn bánh, tôi nhìn qua gương chiếu hậu thấy dáng anh cả nhỏ dần bên gốc hoàng lan. Dù trong xe có máy lạnh nhưng tôi vẫn thấy oi bức, loay hoay tìm cách mở cửa xe.

“Nguy hiểm đấy. Cậu muốn gì?”

Người đàn ông ngồi cạnh ngăn tôi. Tôi chẳng trả lời ông ta. Bên ngoài, những áng mây đỏ ửng bởi ráng chiều chạy dọc quốc lộ dần tắt ngấm. Tôi muốn được hóa kiếp mây, trôi mãi, rớt thành mưa, vô tri vô giác. Ðêm đến, không đặc quánh, không đen tối như sách vẫn ghi chép. Tôi thấy đêm có màu sữa loãng, thậm chí loang luếch trên những chặng đường lên dốc và xuống dốc, y hệt trong những bức tranh của tôi. Ðêm hạ, xe có điều hòa nhiệt độ, người đàn ông bên cạnh đã khoác thêm áo, trong khi tôi thấy ngột ngạt khó thở. Tôi cởi phăng chiếc áo phông duy nhất trên người, vẫn thấy ngực mình nặng trĩu. Ghé sát mặt vào điều hòa, tóc tôi dựng đứng, da đầu đau nhói như bị kim châm, những âm thanh gào thét oán hờn lại chui vào đầu tôi, cố giật tách hai bán não. Tôi ôm đầu quằn quại, lục tìm góc yên tĩnh khiến người đàn ông bên cạnh thức giấc. Ông ta nhăn mặt khó chịu.

“Yên nào. Tai nạn bây giờ đấy. Mặc áo vào kẻo cảm lạnh.”

Ðầu tôi muốn nổ tung, những tiếng gào thét vẫn không chịu buông tha. Tôi đâu là thẩm phán mà xét xử hết cho các người. Tôi đâu là đức Jesus Christ để có thể rửa tội. Tôi đâu có quyền năng gì để giúp các người được giải thoát. Sao cứ réo gọi mãi trong đầu tôi vốn đã căng cứng nặng trịch rồi…

Tôi lăn lộn mãi, xe phải dừng một lúc, người đàn ông giữ chặt tôi, gã tài xế lôi từ sau cốp xe mấy sợi dây bằng vải bện. Họ cột tôi vào ghế, đầu và lưng thẳng một tư thế, chân tay không ngọ nguậy được nữa. Xe tiếp tục đi giữa đêm mờ mịt. Nhìn qua cửa kính, tôi thấy những bóng người chập chờn chạy xô lên nhau, hoảng loạn và liên tục đấm vào cửa xe. Tôi mơ hồ thiếp vào giấc ngủ chập chờn, còn nghe rời rạc cuộc nói chuyện của hai người đồng hành trên xe.

“Tuổi trẻ của tôi ngày xưa cũng kinh khủng, nhưng không đến mức này.”

“Giờ thì yên tâm rồi, cậu ta sẽ ngủ được nhờ mũi an thần ấy.”

Tôi bị đánh thức khi mặt trời đã lên cao, nắng dọi thẳng mắt bởi cánh cửa xe mở toang. Vẫn là tôi, ngồi trên chiếc ô tô đã rời nhà, những sợi dây trói đã được cởi bỏ, khắp người đau nhừ.

“Xuống xe thôi. Chúng ta đã đi suốt đêm, để đến thế giới của cậu.”

Người đàn ông đi cùng chuyển ba lô, ra hiệu tôi xuống xe. Tôi nhúc nhích, cựa mình, dường như họ đã trói tôi suốt đêm như thế.

Tôi khoác ba lô lên vai, theo người đàn ông rời bãi đậu xe, đi về phía có hàng rào gai bằng thép chạy dài tít tắp. Trước lối sang bên kia hàng rào thép, gã đàn ông đầu hói đang ngồi đọc báo trong một gian phòng nhỏ xíu, tôi cho rằng đó là một dạng gác cổng. Người đàn ông đưa tôi đến đây trao đổi gì đó với gã. Cánh cửa hàng rào thép được mở, người đàn ông dẫn tôi bước qua, lại thêm một hàng rào gai nữa, tự động mở. Tôi trố mắt ngạc nhiên. Những lớp hàng rào gai liên tục nhau ngăn cách giữa hai không gian, chúng được cài đặt tự động mở khóa diệu kỳ. Tôi nhẩm đếm có đến bảy lớp hàng rào gai liên tục nhau như thế. Ðến lớp cuối cùng, gã nói:

“Nơi này có đủ sự yên tĩnh nếu cậu muốn. Và cũng đủ náo nhiệt nếu cậu cần. Cứ ăn ngủ tùy thích.”

Tôi bước qua, sững sờ trước không gian mình vừa đặt chân đến. Một bầu trời trong veo, xanh đến bình yên, nắng không gay gắt. Giữa nền xanh ấy, thi thoảng có đám mây trắng bâng quơ lang thang. Mãi những ngày sau tôi mới biết được, sự thay đổi ánh sáng, màu sắc và thời tiết của nơi tôi vừa đến, thực chất là một không gian nhân tạo. Cuộc sống tôi vừa chuyển từ căn phòng trong ngôi nhà của cha mẹ với khu vườn gay gắt những ngày nắng hè bên ngoài cửa sổ mà đã từ lâu tôi rất ít khi bước ra, đến ngôi nhà lớn hơn, trong đó chứa đủ nắng, mưa, mây, gió, ban đêm và ban ngày. Nơi này, rất nhiều những chú chim bồ câu đang lích nhích ăn giữa đám cỏ đằng xa. Tôi yêu bồ câu, loài chim hiền thân thiện với đôi mắt tròn long lanh, đôi chân ngoan lành trong sắc hồng hoặc xanh phớt. Bước lại gần, tôi ngỡ ngàng bởi lần đầu tiên được biết đến một giống bồ câu có kích thước to lớn khác thường, dễ gấp ba lần so với những chú bồ câu bé nhỏ mà tôi vẫn gặp. Ánh mắt chúng vằn lên những tia đỏ khiến tôi không thôi nghĩ về sự đáng yêu của loài chim sứ giả hòa bình. Tôi ngẩn người một lúc, khi quay lại thì người đàn ông đã rời khỏi. Nhận ra có nhiều đôi mắt ngờ nghệch, vô hồn nhìn mình chăm chú, tôi mới giật mình. Xung quanh tôi bấy giờ là đám đông có đủ nam nữ. Họ nhìn tôi như thể một loài quái vật vừa xuất hiện trong thế giới của họ. Tôi kinh hãi, lẽ nào đây là những xác sống man rợ, rồi tôi cũng sẽ giống họ? Gia đình tôi bắt tay với gã đàn ông mặc áo blouse kia, đem tôi đến đây hòng biến tôi thành xác sống, nhằm mục đích nào đó của họ ảnh hưởng đến hòa bình thế giới? Như truyền thuyết đâu đó, mỗi người cắn tôi một miếng vào vai, vào cổ, vào mặt, vào cánh tay… thì tôi cũng sẽ trở thành đồng loại với họ, chờ ngày tiếp nhận để được cắn một người mới… Trong đầu tôi lại điên loạn những tiếng gào thét, ồn ào. Tôi nghe thấy chúng đang dùng búa rìu gõ vào thành vỏ não, chỉ chờ dịp là phá tung óc để thoát ra ngoài. Tôi ôm đầu lăn lộn trên mặt đất, quên mất xung quanh còn một đám người kỳ dị. Những gương mặt dớn dác bỗng phút chốc trở nên quen thuộc, biến hóa linh hoạt thành những nụ cười, ánh mắt mà tôi từng biết. Dường như tất cả đều từng chung sống với tôi, trong căn phòng mười lăm mét vuông, trên những cuộn bố nhoe nhoét sắc màu pha lẫn, trên mặt bàn, ngăn kéo và trên cả bốn bức tường. Lửa rừng rực cháy. Ngọn lửa trong đôi mắt mẹ tôi khiến tất cả thành đống tro tàn…

Tôi lịm đi trong đau đớn. Khi tỉnh lại, những đôi mắt vô hồn đã tản hết, thay vào đó là những sứ giả hòa bình khổng lồ, đứng cạnh tôi đang nằm sóng soài. Những tia đỏ vằn trong đôi mắt vốn trong veo của loài bồ câu, nhìn tôi đầy dò xét. Thấy vài con đang rỉa rỉa đôi giày còn mới nguyên của mình, thi thoảng dụi dụi đầu vào mũi giày, tôi mỉm cười. Tôi đưa ánh nhìn âu yếm, với tay nhẹ nhàng định ôm lấy một chú bồ câu gần nhất. Ðột nhiên, đám bồ câu vỗ cánh bay tán loạn. Tôi cố ngồi dậy, thấy đầu bàn chân nhưng nhức. Ðôi giày bị rách một góc đầu mũi, rỉ ra ít máu, có lẽ do cuộc lăn lộn trên mặt đất lởm chởm đá vừa rồi. Ðầu đã thôi đau nhưng cơn choáng váng vẫn còn. Tôi ngồi thừ nhìn những cặp mắt tròn xoe với những tia nhìn hằn đỏ rình rập, cứ như hễ tôi bất động là chúng sẵn sàng lao vào. Một người con gái ôm bình sữa trên tay, xua đám bồ câu bằng cây roi dài kêu vút khi quất lên. Cô đuổi hết đám bồ câu, ngồi xuống bên cạnh, đưa cho tôi bình sữa. Cơn khát của tôi vừa lúc được khỏa đầy. Tôi uống ừng ực, còn cô dùng chiếc khăn ướt lau những vết bẩn lem nhem trên mặt tôi. Những ngón tay nàng thon nhỏ, mỏng hư vô, một cảm giác quen thuộc lạ lùng dâng lên khi tôi nhìn ngắm nàng kỹ hơn.

“Về thôi. Cậu ở đây thêm nữa là bị rỉa chết đấy.”

Về ư? Tôi vừa tới đây, và thậm chí không biết đường, nếu được trở về. Như hiểu những ý nghĩ của tôi, nàng cười bằng ánh mắt, nói:

“Chào cậu đến thế giới này, nơi dành cho những người không bình thường và những người được chỉ định là không bình thường. Tôi sẽ dẫn cậu về chỗ nghỉ ngơi.”

Tôi tập tễnh theo nàng.

“Chẳng khác gì một công viên ngoài trời nhỉ?” – Tôi nói với nàng khi đi giữa mấy khóm hoa bên hồ nhỏ, đối diện là những trò vui chơi giải trí như tàu lượn, ngựa đu quay với đám đông đang vui đùa ồn ào.

“Ở đây, cậu phải cẩn thận với loài bồ câu. Chúng không dễ thương như cậu nghĩ. Chúng là loài bồ câu thích máu.”

Tôi hồ nghi lời cảnh báo của nàng. Nơi này dành cho những người không bình thường và những người được chỉ định là không bình thường, hẳn nàng không bình thường mới nghĩ về bồ câu như thế. Chúng tôi đi mãi, hết nửa vòng hồ, qua khu đu quay, lại đi hết sân cỏ rộng, đến trước một cửa vòm tối om, xung quanh rủ xuống những loại cây leo, nàng nói:

“Nơi này, an toàn hơn rồi. Cậu nên ở đây.”

Tôi theo sau nàng, lối vào càng sâu càng hẹp, tôi sờ nắn lên vách, thấy xù xì kết nối từ những vỏ ốc vỏ sò lẫn đất sét, qua một lối đi hẹp và sâu, tận bên trong là khoảng rộng như mảnh sân, yên tĩnh với cảm giác lành lạnh của hang động.

“Em ở đâu?” Tôi muốn biết, nếu nàng ở đây, thì tôi sẽ không ở đây. Tôi muốn ở một mình, không liên quan ai cả, không thân thiết ai cả. Những ràng buộc phù phiếm và phiền toái, tôi không muốn. Hơn thế, đã ở trong thế giới này, dù ở góc nào, chúng tôi vẫn đang chung một nhà. Tôi hình dung chúng tôi như những chú gà con trong lò công nghiệp, quá nhỏ bé trước căn phòng rộng lớn này, và nghĩ rằng nó như cả thế giới.

“Tôi lớn tuổi hơn cậu. Tôi ở đây, cậu ở cùng chứ?”

“Thực ra… tôi… tôi muốn ở giữa sân cỏ mênh mông ngoài kia…” Người con gái trông còn rất trẻ này dứt khoát khẳng định nhiều tuổi hơn khiến tôi lóng ngóng chỉ tay về phía sân cỏ vừa đi qua, sợ nàng sẽ phật ý.

“Tùy cậu thôi. Tôi vẫn dành một chỗ cho cậu bất cứ khi nào muốn.”

Tôi ra khỏi động vỏ sò.

Những góc sáng trong căn phòng rộng lớn như một thế giới này bắt đầu nhạt dần, giống như một không gian tự nhiên thực sự. Tôi lục ba lô, chẳng có một vật dụng gì giúp hình dung về thời gian. Vứt ba lô qua một bên, đặt hai tay ra sau gáy, tôi nằm ngửa lên sân cỏ, miên man nghĩ. Tiếng chuông vọng từ trên cao xuống, tôi ngước nhìn, trên “bầu trời” trần nhà là một chiếc đồng hồ hình elip khổng lồ. Ðúng sáu giờ chiều, ánh sáng trong căn phòng khổng lồ này cũng nhá nhem y hệt một không gian giữa tự nhiên lúc hoàng hôn. Tôi bóc chiếc bánh lương khô vừa quơ được trong ba lô và nhấm nhá, chẳng có một ý niệm gì về gia đình và nỗi nhớ. Bên tai tôi vẳng tiếng khóc thét. Không, là tiếng gào của loài mèo hoang? Tiếng tru của chó sói đêm lạnh? Giờ thì đến lượt tiếng ồn ào, và rõ hơn là tiếng khóc thảm thiết. Anh cả tôi đang kéo tay người con gái có mái tóc màu hạt dẻ đi vào phòng khám phụ sản. Cô gái gào khóc, cánh cửa đóng sầm, căn phòng lạnh hoàn toàn trắng toát. Tiếng thét dài đau đớn của người con gái, anh cả vẫn thản nhiên ngồi hút thuốc ở dãy ghế đợi. Tôi thấy một hình hài bé nhỏ màu khói mỏng tang có hai cánh tay bé xíu bay ra khỏi căn phòng, nó lướt quanh người anh cả, lơ lửng đối diện nhưng anh không biết. Rồi thứ âm thanh chẳng rõ là khóc hay cười của loài mèo vang lên. Một đám nam nữ trần truồng, trên tay ai nấy bầy nhầy nhúm ruột của chính mình, từ lồng ngực xuống rốn ròng ròng máu, để lộ những dẻ xương sườn, đám bọt lùi nhùi ở phần lồng ngực, không còn tim, không còn gan, không còn thận. Nội tạng là một mớ khoảng trống. Cha tôi bị đám người rượt đuổi. Cha chạy về phía tôi, hết đe dọa rồi van nài, chỉ cần tôi lên tiếng thì đám người kia sẽ thôi bám cha. Oán hờn, giận dữ và mỉa mai. Xen đó là những cánh rừng xanh rì, thảo nguyên bao la bị cháy rừng rực. Những dòng sông khô cạn và đất đai nứt nẻ, chết chóc. Mẹ tôi lạnh lùng bên lò lửa, tranh trên giấy, tranh trên bố, tranh trên khung gỗ, mặt bàn hộc bàn bị bẻ gãy, mẹ tôi ném tất vào ngọn lửa chực la liếm trần nhà. Tôi không cứu được. Tôi không giữ được. Những cánh rừng của tôi, những linh hồn tôi nuôi dưỡng trên tranh nay cào xé muốn thoát khỏi ngọn lửa. Những mảng màu trên tranh chưa kịp thoát xác để tái sinh, liền bị mẹ hủy diệt nhanh gọn. Sự phẫn nộ, oan ức và tuyệt vọng. Hai thái dương của tôi như bị ai đưa từng mũi khoan xoáy sâu vào. Những tiếng gào ai oán, đòi mạng cứ va đập trong đầu. Một tiếng gầm gừ dữ tợn, và có ai đó đâm vào má tôi bằng một thanh sắt nhọn, dường như thế. Tôi bật tỉnh, đám bồ câu xung quanh bay tán loạn sau tiếng roi vút. Hồi chuông đổ dài, tôi ngước nhìn đồng hồ và ánh sáng trong căn phòng khổng lồ, nhận ra đã là bình minh ngày mới. Người con gái buông cây roi, ngồi xuống cạnh tôi:

“Cậu vừa gặp ác mộng ư?”

Tôi không trả lời nàng.

“Loài bồ câu kia đã nếm được vị máu của cậu. Nhìn xem, mặt cậu bị thương rồi.” Nàng đưa tôi chiếc gương nhỏ cùng mảnh khăn ướt. Tôi soi mặt mình, nhận thấy nơi đau buốt trên má mà tôi tưởng có ai đó đã xiên một thanh sắt nhọn vào đang rỉ máu. Tôi chưa kịp trả lời nàng thì cách chỗ tôi và nàng ngồi không xa, người đàn ông tầm năm mươi tuổi, vừa tự đâm mình bằng vật nhọn và máu chảy ra không ngừng, lại vừa cố xua đuổi những con bồ câu đang tấn công gã. Nàng bỏ mặc tôi, cầm cây roi định chạy ra xua đàn bồ câu, nhưng vừa được hai bước thì nàng sững lại. Bồ câu ở đâu kéo đến cả một vùng sân cỏ, vây kín người đàn ông kia. Nàng vực tôi dậy, hối thúc:

“Nhanh, về khu động vỏ sò. Satan khát máu đã tới. Chúng quá đông.”

Tôi chưa kịp định hình sự việc trong khi một cảm giác ớn lạnh chạy dọc toàn thân, sợ hãi. Tôi xách ba lô, nàng kéo tôi chạy. Tôi hổn hển trong hơi thở, hỏi nàng.

“Chúng là bồ câu, hay là quỷ khát máu đội lốt thế? Người đàn ông kia, tại sao lại làm mình bị thương để mời gọi lũ chim?”

Chúng tôi về đến cửa động, lùa tôi vào phía trong, còn nàng ngồi chắn ở bên ngoài.

“Người đàn ông kia là kẻ không bình thường.”

Nàng vừa nói, vừa chỉ cho tôi thấy cảnh tượng phía ngoài xa, nơi những con chim đang ken kín người đàn ông. Ðàn chim mà tôi tưởng chúng là sứ giả hòa bình thì hóa ra chúng lại là Satan khát máu tại nơi này. Nàng giải thích và lưu ý tôi không được để mình bị thương, chảy máu. Lũ chim ấy bình thường hiền lành, nhưng chỉ cần ngửi thấy mùi máu là chúng không buông tha con mồi. Chẳng mất nhiều thời gian, lũ chim tản ra và giữa đám cỏ chỉ còn những mảnh vải rách tươm.

Tôi rùng mình ớn lạnh, nơi này quá kinh khủng.

Tôi tin nàng. Tôi kể về chính mình. Tôi đã vẽ rất nhiều, lối chủ đạo sắc màu của máu và bóng đêm, những cái chết không an yên, sau ngày biết được bí mật của cha tôi và gã đàn ông mặc bộ đồ blouse. Cha sợ những bức tranh của tôi và đó là lý do mẹ phải thiêu hủy chúng. Triền miên, tôi không cảm thấy buồn ngủ, hết giấy để vẽ, tôi bôi màu lên mặt bàn, lên sàn nhà, lên bốn bức tường trong căn phòng của mình. Không còn một mẩu chì, tôi đã trộn máu lên tất cả các mảng tường. Trong những giấc ngủ ít ỏi, tôi thường nghe những bức tranh trò chuyện. Cha nói tôi là kẻ loạn âm loạn dương. Sau nhiều đợt đốt hết bàn gỗ trong phòng tôi và sơn màu lại bốn bức tường, người nhà đã nghĩ cách đưa tôi đến nơi này bởi gã đàn ông kia. Người đàn ông mà đến giờ này tôi nhận định được y có mối liên hệ mật thiết với cha tôi, với đám nam nữ sống dở chết dở trong những cơn ác mộng của tôi. Chỉ mình tôi biết, rằng tôi rất bình thường. Dĩ nhiên, chẳng ai tin điều đó.

“Còn nàng?”

“Ðám đông quá giả tạo, cả những người ruột thịt với nhau… Cậu không nhận ra tôi sao?”

“Chúng ta quen nhau ư? Ðám đông giả tạo, sao nàng còn kết bạn với tôi?”

“Tôi quá biết cậu. Tôi biết, cậu có thể cứu chính mình. Chúng ta phải thoát khỏi đây, trước khi những con quỷ khát máu ngày một to béo thêm.”

Tôi ở với nàng, an toàn trong khu động vỏ sò, vách đoạn thi thoảng là xi măng gắn kết. Khi ánh sáng đủ như ban ngày, chúng tôi đến nơi được quy định sẵn để lấy đồ ăn, thức uống và phập phồng nỗi sợ gặp quỷ. Ðêm đến, bóng tối thực sự đặc quánh như sách vẫn tả, đầy rẫy những hiểm nguy. Ở bên nàng, tôi luôn có một cảm giác rất lạ, dường như tôi đã đánh mất nàng một lần trước đó lâu lắm, dường như điều đó đã từng khiến tôi đau lòng khôn nguôi. Tôi yêu quý nàng và cảm giác trân trọng, kính ngưỡng người con gái, như đối với nữ thần.

Thi thoảng, chúng tôi phải chứng kiến những con quỷ đội lốt bồ câu tấn công bất cứ ai bị thương sẵn, và chúng xâu xé. Nàng thường dùng cây roi của mình xua đuổi chúng, nhưng không ít lần bất lực nhìn đám đông loài chim dơ bẩn mượn danh thiên thần kia rỉa dần từ vết thương nham nhở trên kẻ khốn khổ. Giữa loài khát máu và Thần Chết quỷ quyệt có một hiệp ước ngầm là giày vò và trừng phạt con người trên đường chuyển cõi.

Những lớp rào gai và người đàn ông gác cổng theo lối cũ lúc tôi bước vào nay biến mất như chưa từng tồn tại. Không một kẽ hở. Không một lối ra vào. Tôi bất lực. Anh cả luôn biết tôi muốn gì, nhưng chẳng có một cây chì và tập giấy vẽ nào được gửi đến. Tôi mặc kệ nàng loay hoay gì đó trong góc động. Tôi cạy những vỏ sò trên vách, nghiền nhỏ chúng, tay tôi tứa máu, trộn thành những mảng màu. Tôi vẽ.

Tôi không phải đợi lâu sau đó. Nàng tìm tôi, kéo tôi chạy mãi vào sâu trong động. Tôi hơi ngỡ ngàng vì không ngờ khu động kéo dài hơn tôi biết so với ngày đầu tới đây. Cuối hành lang hẹp và ẩm ướt, nàng cúi xuống lật một khối đất lên. Hoàn toàn trong bất ngờ, tôi theo nàng nhảy xuống sâu phía dưới. Con đường hầm! Những ngón tay nàng mỏng mảnh gợi cảm giác như không có thật. Bàn tay lạnh của người vừa dầm mưa xong, nắm lấy tay tôi, dẫn tôi chạy mãi trong lối nhỏ om om tối. Hơi ẩm ướt và ngai ngái mùi đất, những thứ mùi của tầng sâu xộc vào mũi khiến tôi nhiều lần nôn ọe. Ðường hầm dài và hẹp hun hút xa tít tắp, tôi tự hỏi nàng đã sống bao nhiêu năm ở đây để có thể đào được lối đi bí mật này. Tôi có cảm tưởng như chúng tôi đã đi như thế trong ít nhất hơn hai giờ đồng hồ. Ðột ngột dừng lại, nàng nói khẽ:

“Cậu vẫn không nhận ra tôi ư?”

Vài giây, mắt nàng xoáy vào mắt tôi. Tôi nghẹt thở. Nàng quay đi, giải thích:

“Ðây là điểm chốt, phải dùng sức mạnh của ít nhất hai người mới làm đổ vách ngăn kia. Nhưng ngay trên mặt đất là bức tường có hệ thống báo động… Ðừng hỏi tại sao tôi biết điều đó! Chỉ cần đổ vách ngăn, chuông báo động bị giật, loài bồ câu khát máu sẽ tập trung hết tại đây, và cũng là cơ hội thoát được ra ngoài…”

“Nếu chúng ta không thể nhanh hơn loài bồ câu kia?”

“Cậu phải nhanh hơn chúng! Tôi tin cậu! Vì tôi, hãy nhanh hơn chúng!”

Trước mắt tôi, bức vách ngăn bỗng sụt xuống, và hệ thống báo động được giật dây, bức tường ngoài cùng đổ ập. Một tiếng nổ đinh tai, tòa nhà bị sập một góc mái, từ dưới những vòm mái, lũ chim quỷ nghe thấy những tiếng hét thất thanh, và chúng đã ngửi thấy mùi máu. Mùi máu của người con gái có màu xanh!

***

Trong người tôi, máu đang chảy rần rật. Nàng có đôi bàn tay trắng lạnh liêu trai. Nàng có đôi mắt rất quen. Sắc xanh của lưng chừng biển khơi ngày nắng trong từng ánh nhìn trong veo, tôi đã phải trộn những nguyên liệu màu khác nhau mới ra được điều đặc biệt ấy. Tôi đã không kịp cứu khi chứng kiến mẹ đốt bức tranh. Bức chân dung “Người cứu rỗi”, ký ức mơ hồ về một người con gái có đôi tay mỏng và lạnh nhưng rất đỗi ân cần, dịu dàng với tôi những ngày tôi bốn tuổi. Chính nàng. Tôi mất nàng thêm lần nữa, bằng da bằng thịt bên tôi trong thời gian dài.

Ngoài không gian, giữa rừng u u. Tôi vẽ lên lá cây, thân cây, vách đá. Những mảnh chai cứa thân cây chảy nhựa, cứa đứt tay tôi, máu loang ra nên những mảng màu.

Tôi nghe thấy tiếng cười của nàng, đôi tay mỏng và lạnh tan vào hư vô, chiếc nhẫn khắc đóa mận hoa bỗng sáng lóa giữa ánh nắng mặt trời. Từ đó, những bức tranh thôi khóc than.

Lý Uyên

(Tác phẩm đã đăng trên Tạp chí Sông Lam số Xuân Bính Ngọ – số 60 (tháng 1+2/2026)