Hiện thực và con người sử thi trong hồi ký cách mạng

Trong dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại, hồi ký cách mạng giữ một vị trí đặc biệt với tư cách vừa là một bộ phận của văn học, vừa là tư liệu lịch sử sống động. Khác với tiểu thuyết hay truyện ngắn, hồi ký cách mạng gắn liền với nhân chứng lịch sử, với ký ức của những người trực tiếp tham gia vào cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Vì thế, nó phản ánh hiện thực chiến tranh một cách chân thực, sống động, cho thấy một bức tranh toàn cảnh về chiến tranh, ở đó con người phải đối phó với một hiện thực khốc liệt, gian lao nhưng cũng rực sáng tinh thần chiến đấu. Chính trong bối cảnh đó, con người đã bộc lộ những phẩm chất kiên cường để được khắc họa thành những nhân vật mang dáng dấp sử thi, vừa anh hùng vừa nhân văn.

1. Nhu cầu viết và bối cảnh ra đời, phát triển của hồi ký cách mạng

Mặc dù có nhiều cách quan niệm, hồi ký thường được hiểu khá thống nhất là một tiểu loại thuộc thể ký, ở đó tác giả viết về những ký ức của mình (tác giả ở đây được hiểu là người sở hữu hồi ức, ở đó họ có thể trực tiếp viết hoặc nhờ ai đó chấp bút). Câu chuyện được kể trong hồi ký có thể tập trung vào chính tác giả hoặc cũng có thể là những người mà tác giả gặp gỡ, quen biết, những sự kiện xảy ra mà tác giả trực tiếp tham gia hoặc chứng kiến. Hồi ký thường được viết bởi những người nổi tiếng, các nhà lãnh đạo thế giới, vận động viên chuyên nghiệp, nhà văn, nghệ sĩ có tiếng… Tuy nhiên bất kì ai cũng có thể viết hồi ký và đôi khi chúng trở thành những tác phẩm văn học tuyệt vời ngay cả khi tác giả không có một cuộc đời đặc biệt khác thường. Hồi ký thường bao gồm toàn bộ cuộc đời của tác giả, nhưng trong một số trường hợp, nó chỉ bao gồm những phần quan trọng.

Từ góc độ đề tài, có thể chia hồi ký thành hai mảng riêng biệt: hồi ký cách mạng, lịch sử và hồi ký văn hóa, văn nghệ. Ở mỗi một mảng đề tài, hồi ký thể hiện các đặc trưng của nó, qua đó cho thấy khả năng bao quát, khám phá hiện thực một cách sống động, chân thực cũng như vai trò đặc biệt của cái “tôi” với tư cách là người chứng kiến, phản ánh lại hiện thực đó. Hồi ký cách mạng, với đặc trưng của mình, đã cho thấy hiện thực và con người sử thi của một giai đoạn đất nước nhiều biến động. Hồi ký vì thế trở thành chiếc cầu nối giữa ký ức cá nhân và lịch sử, làm nổi bật giá trị nhân chứng của văn học.

Nửa sau thế kỉ XX, hồi ký xuất hiện như một nhu cầu tất yếu. Người trong cuộc – những cán bộ, chiến sĩ, trí thức, những con người trực tiếp trải qua bom đạn – đều mang trong mình một thôi thúc mãnh liệt phải ghi lại, phải lưu giữ những gì đã diễn ra. Với họ, viết hồi ký không chỉ là sở thích, đam mê cá nhân, mà còn là cách “trả món nợ” với lịch sử, với đồng đội đã hy sinh.

Sự xuất hiện và phát triển của hồi ký cách mạng trong văn học Việt Nam hiện đại không thể tách rời hoàn cảnh lịch sử – xã hội đặc biệt của dân tộc ở thế kỷ XX. Đây là giai đoạn đất nước trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, tiếp đó là công cuộc kiến thiết và bảo vệ Tổ quốc sau 1975. Chính những biến động dữ dội của thời cuộc, cùng với nhu cầu ghi chép, lưu giữ ký ức và khẳng định vai trò của cái tôi cá nhân trong dòng chảy lịch sử đã tạo nên động lực cho sự hình thành và phát triển của dòng hồi ký cách mạng.

Bên cạnh nhu cầu cá nhân, hồi ký cách mạng còn ra đời trong bối cảnh văn học được xác định rõ ràng là một vũ khí tư tưởng của Đảng. Từ sau 1945, quan điểm văn nghệ là vũ khí phục vụ cách mạng trở thành phương châm chỉ đạo xuyên suốt. Văn học nói chung, và hồi ký nói riêng, được xem như công cụ phản ánh, tuyên truyền và cổ vũ cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc.

Từ những năm 1960, Tổng cục Chính trị đã phát động các cuộc vận động sáng tác hồi ký trong lực lượng vũ trang. Việc viết hồi ký vừa mang ý nghĩa văn học, vừa mang tính chính trị. Nó nhằm khẳng định quan điểm của Đảng rằng văn nghệ thuộc về nhân dân, đồng thời là minh chứng cho sức mạnh và lý tưởng cách mạng. Vì vậy, hồi ký cách mạng giai đoạn này còn là một hình thức giáo dục truyền thống, một phương tiện lan tỏa lý tưởng sống và chiến đấu. Như Ngô Thị Ngọc Diệp từng nhận định, hồi ký trở thành một “nhu cầu lưu giữ ký ức để tri ân cách mạng và giáo dục đạo đức truyền thống”[1], qua đó tạo nên một tâm thế sáng tác mới, góp phần hình thành dòng chảy đặc biệt trong văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XX.

Tác phẩm Ký ức Tây Nguyên của Đặng Vũ Hiệp

Sau những đợt phát động viết hồi ký của Tổng cục Chính trị với mục đích nhằm giáo dục truyền thống quân đội, truyền thống bộ đội Cụ Hồ cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân, nhiều cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cao cấp đã hưởng ứng, như Võ Nguyên Giáp với Từ nhân dân mà ra, Song Hào với Dưới lá cờ vinh quang của Đảng, Chu Văn Tấn với Kỷ niệm Cứu quốc quân, Phạm Kiệt với Từ núi rừng Ba Tơ… Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, xuất hiện các cuốn hồi ký chiến tranh: Đại thắng mùa xuân của Đại tướng Văn Tiến Dũng, Những năm tháng quyết định của Hoàng Văn Thái, Nhiệm vụ đặc biệt của Nguyễn Tư Cường, Đường mòn trên biển của Nguyễn Tư Đương, Những chặng đường chống Mỹ của Lê Quang Hòa. Đầu thế kỉ XXI, một loạt hồi ký chiến tranh khác được xuất bản: Một thời sôi động của Chu Huy Mân, Chặng đường mười nghìn ngày của Hoàng Cầm, Bình minh Ba Tơ của Nguyễn Đôn, Một thời sôi nổi của Nguyễn An, Ký ức Tây Nguyên của Đặng Vũ Hiệp, Một thời Quảng Trị của Nguyễn Huy Hiệp, đặc biệt các tập hồi ký Chiến đấu trong vòng vây, Đường tới Điện Biên Phủ, Điện Biên Phủ – điểm hẹn lịch sử của Võ Nguyên Giáp do Hữu Hai thể hiện…

Như vậy, đặt hồi ký cách mạng trong bối cảnh rộng lớn của đời sống văn hóa – xã hội Việt Nam thế kỷ XX, có thể thấy sự ra đời của nó gắn liền với nhiều yếu tố. Bối cảnh lịch sử với hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và công cuộc xây dựng đất nước sau 1975 là những chất liệu phong phú cho hồi ký. Chính những biến cố ấy đã tạo nên một “thế hệ hồi ký”, với hàng loạt tác giả là nhân chứng sống. Từ góc độ bối cảnh văn học, từ 1945, văn học Việt Nam bước vào thời kỳ gắn bó chặt chẽ với vận mệnh dân tộc. Hồi ký, cùng với nhật ký, ký sự, trở thành những thể loại giàu sức hấp dẫn vì gắn liền với những sự kiện nóng hổi của thời cuộc. Về văn hóa, xã hội, nhu cầu giáo dục truyền thống, củng cố lòng yêu nước, khơi dậy niềm tự hào dân tộc đã thúc đẩy việc viết và xuất bản hồi ký. Nhiều tác phẩm hồi ký được xuất bản trong các dịp kỷ niệm chiến thắng, kỷ niệm ngày thành lập quân đội, ngày giải phóng… như một cách “ôn cố tri tân”, nhắc nhớ và tri ân quá khứ.

Sự hội tụ của các yếu tố trên đã tạo nên một dòng hồi ký đặc biệt trong văn học Việt Nam hiện đại: hồi ký cách mạng. Nó vừa mang tính chất tự phát (từ nhu cầu cá nhân), vừa có sự tổ chức, định hướng (từ phía Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội), vừa chịu tác động của nhu cầu cộng đồng (giữ gìn ký ức, giáo dục thế hệ sau).

2. Hiện thực chiến tranh: gian khổ và hào hùng

Hồi ký cách mạng, với tư cách là một thể loại ký đặc biệt, không chỉ lưu giữ ký ức cá nhân và tập thể, mà còn là tấm gương phản chiếu hiện thực chiến tranh trong tất cả sự khốc liệt và vẻ đẹp bi tráng của nó. Trong đó, hình ảnh chiến tranh hiện lên đồng thời ở hai bình diện: gian khổ – như một hiện thực khách quan của bom đạn, hy sinh, mất mát; và hào hùng – như một biểu tượng tinh thần khẳng định sức sống, ý chí và bản lĩnh của con người Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Một trong những giá trị nổi bật của hồi ký cách mạng là khả năng tái hiện chân thực đời sống kháng chiến. Khác với tiểu thuyết hay truyện ngắn có thể hư cấu, hồi ký gắn liền với trải nghiệm trực tiếp của nhân chứng. Chính vì vậy, hình ảnh chiến tranh trong hồi ký thường hiện lên chân thực, sống động, gắn với những trải nghiệm về sự thiếu thốn, cơ cực, hiểm nguy mà người trong cuộc phải chịu đựng.

Hồi ký của nhiều chiến sĩ và tướng lĩnh ghi lại những năm tháng hành quân rừng núi, ăn cơm vắt muối rang, ngủ trong lán tre nứa, sống chung với sốt rét, bom đạn. Trong Từ nhân dân mà ra của Võ Nguyên Giáp, hình ảnh những chiến sĩ áo nâu chân đất, chỉ với súng trường thô sơ mà phải đối đầu với quân đội nhà nghề Pháp, là minh chứng rõ rệt cho sự chênh lệch lực lượng và những gian khổ tột cùng của buổi đầu kháng chiến. Tương tự, Bất khuất của Nguyễn Đức Thuận không ngần ngại tái hiện những đòn tra tấn tàn bạo, sự hành hạ thể xác, tinh thần nơi nhà tù thực dân, những không gian tối tăm, ngột ngạt nơi con người bị đẩy đến giới hạn sinh tồn.

Chiến tranh cũng được khắc họa như một chuỗi mất mát không thể đo đếm. Nhiều hồi ký dành những trang viết nghẹn ngào cho đồng đội đã ngã xuống, cho những cuộc chia ly không hẹn ngày gặp lại, cho những gia đình tan vỡ trong khói lửa. Chính sự trung thực ấy khiến hiện thực chiến tranh trong hồi ký không hề được lãng mạn hóa, mà hiện ra như một bức tranh đầy máu, nước mắt và sự hy sinh.

Những gian khổ mà con người phải chịu đựng không chỉ thuộc về phương diện vật chất, mà còn là thử thách tinh thần. Người lính cách mạng phải đối diện với nỗi sợ hãi cái chết, với cảm giác cô đơn khi ở nơi rừng sâu núi thẳm, với sự giằng xé giữa tình riêng và nghĩa lớn. Đó là khía cạnh làm nên chiều sâu nhân bản của hồi ký cách mạng, bởi nó khẳng định: người lính trước hết cũng là một con người bình thường, phải trải qua những giây phút yếu mềm, nhưng chính từ đó mới toát lên sức mạnh vượt lên hoàn cảnh.

Song song với hiện thực gian khổ, hồi ký cách mạng còn tái hiện một phương diện khác của chiến tranh: sự hào hùng. Đây không phải là sự che giấu, lấp lửng nỗi đau, mà là sự khẳng định sức mạnh tinh thần, niềm tin và lý tưởng đã giúp con người Việt Nam vượt qua gian khổ để chiến thắng.

Nhiều tác phẩm đã dành những trang viết trang trọng cho các trận đánh lớn, cho những giờ phút quyết định làm nên bước ngoặt của cách mạng. Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm của Thượng tướng Trần Văn Trà viết về những năm tháng chiến đấu vô cùng anh dũng của quân dân Nam Bộ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Ký ức Tây Nguyên của Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp viết về cuộc chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ và người dân Tây Nguyên trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước cực kì gian khổ nhưng rất hào hùng. Đồng bằng rực lửa của Trung tướng Vũ Ba viết về sự mưu trí, dũng cảm của những chiến sĩ du kích, bộ đội địa phương và đồng bào vùng đồng bằng châu thổ song Hồng đánh Pháp. Đường xuyên Trường Sơn của Thượng tướng Đồng Sĩ Nguyên viết về tuyến đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại. Còn Đường mòn trên biển của Thiếu tướng Nguyễn Tư Đương là một khúc tráng ca bất tử về những cán bộ, chiến sĩ hải quân của đoàn tàu không số trên tuyến vận tải biển… Các cuốn hồi ký đều cho thấy một cảm hứng sử thi tràn ngập từng trang viết.

Việc tái hiện đồng thời hai bình diện gian khổ và hào hùng của chiến tranh mang nhiều ý nghĩa. Trước hết, nó đảm bảo sự trung thực lịch sử, tránh xu hướng một chiều. Chiến tranh không thể chỉ được nhìn như bản hùng ca, mà còn phải được nhận diện như bi kịch với biết bao hy sinh. Ngoài ra, việc khắc họa hiện thực chiến tranh vừa gian khổ vừa hào hùng còn phản ánh quan niệm nghệ thuật đặc thù của văn học cách mạng Việt Nam. Văn học không chỉ ghi lại sự thật, mà còn định hướng tư tưởng, nâng đỡ tinh thần. Chính trong sự dung hòa ấy, hồi ký cách mạng đã tạo nên sức sống bền lâu: vừa là sử liệu, vừa là văn học, vừa là lời tri ân lịch sử.

3. Con người sử thi: anh hùng và nhân văn

Trong văn học cách mạng Việt Nam nói chung và hồi ký cách mạng nói riêng, hình tượng con người là trung tâm của mọi miêu tả. Nếu như mục đích của hồi ký không chỉ dừng ở việc tái hiện sự kiện mà còn nhằm khẳng định giá trị, ý nghĩa của cách mạng, thì hình tượng con người trở thành nơi tập trung những biểu hiện cao nhất của tinh thần thời đại. Con người trong hồi ký cách mạng thường mang dáng dấp sử thi, được khắc họa như biểu tượng anh hùng đồng thời là chủ thể giàu tính nhân văn. Sự kết hợp giữa hai yếu tố ấy làm nên bản sắc riêng của thể loại và phản ánh đặc trưng văn hóa – tư tưởng Việt Nam trong thế kỷ XX.

Tác phẩm Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm của Thượng tướng Trần Văn Trà

Hồi ký cách mạng ra đời trong bối cảnh dân tộc Việt Nam tiến hành những cuộc kháng chiến lâu dài, quyết liệt chống ngoại xâm. Chính bối cảnh này quyết định loại hình nhân vật trung tâm: con người anh hùng. Nguyễn Thanh Tú trong bài viết “Sự cất tiếng của ký ức, lịch sử và lương tri” (Văn nghệ Quân đội, số 960/2021) cho rằng văn học là ký ức, là tiếng nói của lịch sử, bên cạnh đó, tính chất anh hùng của sử thi đã ở trong máu của mỗi người Việt, là một đặc tính, thuộc tính, một phẩm chất của văn học Việt Nam. Theo nhà nghiên cứu này, trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975, cảm hứng sử thi hào sảng đã tạo ra những hình tượng đậm chất lý tưởng.

Hình tượng Bác Hồ hiện lên trong ký ức của những người viết hồi ký thể hiện rõ nét nhất đặc điểm này. Nhiều cuốn hồi ký viết về Bác, ở mỗi cuốn, các tác giả có một cách nhìn khác nhau nhưng tựu trung lại đều thể hiện sự ngưỡng mộ, trân trọng, tin yêu trước nhân cách sáng ngời của vị lãnh tụ vĩ đại, như trong các tác phẩm Chiến đấu trong vòng vây, Đường tới Điện Biên Phủ, Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đi theo con đường của Bác của Đại tướng Văn Tiến Dũng, Trọn một đời đi theo Bác của Thượng tướng Phùng Thế Tài, Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm của Thượng tướng Trần Văn Trà, Chiến đấu ở Tây Nguyên của Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo, Niềm tin và lẽ sống của Trung tướng Nguyễn Đệ, Thiếu tướng Nguyễn Bá Phát – vị tướng tài ba của nhiều tác giả, Bác của chúng ta của Đại tướng Lê Trọng Tấn…

Các nhân chứng – tác giả hồi ký cũng tái hiện hình ảnh người chiến sĩ, cán bộ, nhân dân như những chủ thể kiên cường, quả cảm, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc. Trong Từ nhân dân mà ra, Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh tinh thần “từ nhân dân mà lớn lên”, coi mỗi người lính không chỉ là cá nhân cụ thể mà là kết tinh sức mạnh của cộng đồng. Hình tượng này mang tính điển hình sử thi: nó vượt lên cái riêng tư để trở thành biểu tượng tập thể. Đây chính là di sản văn hóa vô giá mà hồi ký cách mạng đã đúc kết và khơi dậy.

Di sản văn hóa ấy là sự phục dựng lại một hiện thực và con người sử thi, như Đặng Thai Mai đã “nhìn lại lịch sử đất nước nửa đầu thế kỉ từ phía lịch sử tư tưởng của một thế hệ thanh niên trí thức Việt Nam đầy hoài bão trước vận mệnh dân tộc”[2], như Nguyễn Vũ Điền đã “ghi lại sự khốc liệt của một thời đã qua, nói lên tâm tư tình cảm của riêng mình khi tham gia vào đội quân tình nguyện chiến đấu tại chiến trường K”[3], như Võ Minh đã kể về những trận đánh, những đêm hành quân nhọc nhằn, những cái chết, “ghi lại bằng cả một hệ thống chi chít những chi tiết sống động, độc đáo, có duyên mà nếu không thực sự trải qua, không thực sự sống tận cùng với nó thì không thể nào hình dung ra nổi”[4]. Hiện thực và con người trong hồi ký chiến tranh, cách mạng mang tính sử thi bởi nó khắc họa bộ mặt tàn khốc của chiến tranh nhưng đồng thời qua đó cho thấy sức mạnh của con người, của dân tộc Việt Nam. Bởi vì, nói như nhà văn Chu Lai, “chiến tranh là bi kịch, nhưng chiến tranh cũng là bi tráng”[5]. Còn Võ Thị Hảo trong lời giới thiệu cho cuốn hồi ký Có một thời như thế của Võ Minh cũng nhận xét rằng đó là một khúc hát ru cho những ngày qua bi tráng.

Trong giai đoạn trước 1985, những vị tướng lĩnh hiện lên trong hồi ký với tầm vóc sử thi và nhuốm màu huyền thoại. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong hồi ký như một vị dũng tướng, trí tướng, nhân tướng, là một thiên tài quân sự, có nhân cách cao đẹp. Các tướng lĩnh trong các tác phẩm hồi ký là những người chịu những áp lực lớn bởi họ là người gánh vác trọng trách mà Đảng và nhân dân giao phó. Khi trở thành những tác giả văn học, họ viết hồi ký để “trả nợ cho những ân tình của cách mạng”[6]. Sau 1975, đặc biệt là sau 1985, hồi ký của các tướng lĩnh mang góc nhìn đa chiều hơn, thể hiện trong một loạt tác phẩm như Chiến đấu trong vòng vây, Đường tới Điện Biên Phủ, Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Hữu Mai thể hiện), Nhớ mãi đại tướng Văn Tiến Dũng (tập hợp các bài viết, hồi kí của các đồng chí lãnh đạo, lão thành cách mạng và sĩ quan cao cấp về Đại tướng), Hồi kí Thượng tướng Phùng Thế Tài – trọn một đời đi theo Bác (Thế Kỷ ghi), Đời chiến sĩ, hồi kí của Đại tướng Phạm Văn Trà (Duy Tường thể hiện), các hồi kí của NXB Văn học tái hiện chân dung các tướng lĩnh Việt Nam: Đại tướng Võ Nguyên Giáp – văn hóa Việt Nam, ý chí Việt Nam; Đại tướng Hoàng Văn Thái – Tổng Tham mưu trưởng đầu tiên; Đại tướng Nguyễn Chí Thanh – nhà lãnh đạo mẫu mực, tài năng; Đại tướng Văn Tiến Dũng – vị tướng kiên cường, mưu lược; Đại tướng Lê Trọng Tấn – người của những chiến trường nóng bỏng; Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên – với cả cuộc đời; Trung tướng Trần Độ – cây súng, cây bút đi suốt cuộc đời…

Hồi ký cách mạng không lý tưởng hóa con người như những anh hùng siêu phàm, mà đồng thời nhấn mạnh chất nhân văn trong họ, tức là những tình cảm, suy tư đời thường và phẩm chất mang tính nhân bản. Trong nhiều trang hồi ký, bên cạnh những trận đánh ác liệt, ta bắt gặp hình ảnh chiến sĩ chia nhau từng nắm cơm, nhường chỗ ngủ cho đồng đội, hay lặng lẽ chôn cất bạn ngã xuống trong bom đạn. Đó là những chi tiết nhỏ nhưng giàu sức gợi, làm nổi bật nhân cách con người trong chiến tranh.

Các tác giả hồi ký không ngần ngại kể lại nỗi nhớ nhà, tình yêu đôi lứa, những giây phút yếu lòng trước cái chết cận kề. Những chi tiết này không làm giảm đi phẩm chất anh hùng, mà ngược lại, khẳng định con người anh hùng cũng là con người bằng xương bằng thịt với những nhu cầu, cảm xúc rất đời thường. Chính từ chiều sâu nhân văn này, hình tượng nhân vật trong hồi ký cách mạng trở nên chân thực và có sức thuyết phục hơn.

Hồi ký cách mạng Việt Nam đã khắc họa hình tượng con người sử thi với hai phương diện cơ bản: anh hùng và nhân văn. Anh hùng để tôn vinh sức mạnh, bản lĩnh và lý tưởng; nhân văn để khẳng định tình người, sự gần gũi và chiều sâu nhân tính. Sự kết hợp này không chỉ tạo nên sức hấp dẫn nghệ thuật mà còn phản ánh trung thực tinh thần thời đại, một thời đại mà dân tộc Việt Nam vừa phải đối diện với thử thách sinh tử vừa giữ vững những giá trị nhân bản cốt lõi.

Nhìn lại hồi ký cách mạng, có thể thấy đó là nguồn tư liệu quý giá về lịch sử kháng chiến. Thông qua từng trang viết, hiện thực chiến tranh hiện lên vừa khốc liệt, gian lao, vừa chứa đựng ánh sáng của niềm tin và chiến thắng. Trong bức tranh ấy, con người được khắc họa với tầm vóc sử thi: anh hùng trong chiến đấu, nhân văn trong ứng xử và giàu tình nghĩa trong đời sống. Hồi ký cách mạng vì thế đã góp phần kiến tạo một ký ức tập thể về dân tộc, bồi đắp niềm tự hào và bản sắc văn hóa Việt Nam. Nó là sản phẩm của một thời đại đặc biệt, đồng thời cũng là “những đóng góp vô giá vào kho tàng di sản văn hóa chung của dân tộc”[7].

Phạm Quỳnh An

Chú thích

  1. Ngô Thị Ngọc Diệp (2013), Hồi ký trong văn học Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, LATS, Đại học Sư phạm Hà Nội, tr.40.
  2. Lý Hoài Thu (2008), “Hồi ký và bút ký thời kỳ Đổi mới”, Nghiên cứu Văn học, số 10, tr.77.
  3. Phạm Khánh Duy (2022), “Hồi ký Rừng khộp mùa thay lá của Nguyễn Vũ Điền dưới góc nhìn phân tâm học”, Tạp chí Khoa học, Đại học Văn hiến, số 8, tr.1.
  4. Chu Lai (2007), “Một bài ca đau thương và hào sảng về người lính”, Có một thời như thế, Võ Minh, Nxb.Thanh niên, tr.7.
  5. Chu Lai (2007), “Một bài ca đau thương và hào sảng về người lính”, Có một thời như thế, Võ Minh, Nxb.Thanh niên, tr.7.
  6. Trần Thị Hồng Hoa (2016), “Một vài đặc trưng của hồi ký các tướng lĩnh sau năm 1975”, Văn nghệ Quân đội, số 845, tr.104.
  7. Phạm Bá Toàn (2010), “Về một số di sản văn hóa tinh thần đặc biệt: Hồi ký chiến tranh”, Di sản văn hóa, số 1, tr.84.

Tài liệu tham khảo

  1. Ngô Thị Ngọc Diệp (2013), Hồi ký trong văn học Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, LATS, Đại học Sư phạm Hà Nội.
  2. Phạm Khánh Duy (2022), “Hồi ký Rừng khộp mùa thay lá của Nguyễn Vũ Điền dưới góc nhìn phân tâm học”, Tạp chí Khoa học, Đại học Văn Hiến, số 8, tr.1-16.
  3. Trần Thị Hồng Hoa (2016), “Một vài đặc trưng của hồi ký các tướng lĩnh sau năm 1975”, Văn nghệ Quân đội, số 845, tr.104-107.
  4. Chu Lai (2007), “Một bài ca đau thương và hào sảng về người lính”, Có một thời như thế, Võ Minh, Nxb.Thanh niên.
  5. Lý Hoài Thu (2008), “Hồi ký và bút ký thời kỳ Đổi mới”, Nghiên cứu Văn học, số 10, tr.76-88.
  6. Phạm Bá Toàn (2010), “Về một số di sản văn hóa tinh thần đặc biệt: Hồi ký chiến tranh”, Di sản văn hóa, số 1.
  7. Nguyễn Thanh Tú (2021), “Sự cất tiếng của ký ức, lịch sử và lương tri”, Văn nghệ Quân đội, số 960, tr.94-97.