1. Tháng Mười Một. Mùa lạnh đầu tiên trong năm chạm đến miền thượng du bằng sương mỏng và ánh nắng vỡ vàng trên những triền núi đá. Ở Pù Huống, dã quỳ đã nở – thứ hoa không ai gieo mà cứ hễ đông về là bừng lên sắc rực rỡ. Trên những quả đồi nghiêng nghiêng phía bản Na Ngân, từ mỏm đá đến bờ khe, từ đường mòn đến bãi chăn trâu, đâu đâu cũng rạng rỡ sắc vàng như có mặt trời rơi xuống núi. Tôi gặp em lần đầu trong một chuyến đi kiểm tra rừng, khi đang làm nhiệm vụ tại Trạm kiểm lâm Pù Huống. Em xuất hiện như một nhành dã quỳ vừa kịp nở – bất ngờ, mộc mạc và lặng lẽ. Em đang gùi những hạt dẻ rừng từ suối Nậm Ngân về, mái tóc thắt gọn sau gáy, cổ áo váy Thái cài khuy bạc, đôi mắt đen như suối ngủ khuya. Tôi hỏi đường về Trạm kiểm lâm Pù Huống. Em dừng bước, nheo mắt nhìn rồi bảo:
– Anh lạc rồi… phía ấy là đường lên đồi dã quỳ.
– Thế à? Hoa nở thật đẹp!
– Ðẹp. Nhưng chỉ nở một mùa thôi. Anh muốn hái không?
Tôi lặng người. Không rõ vì hoa vàng hay vì nụ cười em mà tim tôi bắt đầu loạn nhịp. Tôi đã đi qua nhiều cánh rừng, qua bao con dốc lởm chởm đá núi, tôi đã từng gặp bao người nhưng chưa từng có ánh mắt nào làm tôi đứng yên như thế. Từ hôm đó, tôi tìm mọi lý do để quay lại bản Na Ngân. Khi thì “về rà lại ranh giới rừng cộng đồng”, lúc lại “vận động dân không phát nương sát lõi bảo tồn”. Nhưng tôi biết rõ mình quay lại để gặp em, để ngồi bên bậu cửa nhà sàn nghe em giã chẩm chéo, để được cùng em đi hái dã quỳ cuối chiều, nơi triền núi Pù Nhinh nghiêng về phía mặt trời lặn. Có lần, tôi đùa: “Hoa ở đây nở đẹp thật. Nhưng có khi anh mê hoa là tại… người hái hoa đấy!” Em đỏ mặt, quay đi, nhưng đôi vai thì rung nhẹ như cười.
Người bản gọi tôi là “chàng rể kiểm lâm”. Họ quen dần với hình ảnh tôi lội suối băng rừng cùng trai bản, học múa xòe dưới trăng, uống rượu cần đỏ mặt, và nghe em hát những điệu dân ca mà tôi chẳng hiểu hết nghĩa, nhưng lòng thì cứ ấm lên mỗi lần nghe. Tôi dạy em phân biệt dấu chân thú rừng, em dạy tôi gọi tên từng cây thuốc rừng bằng tiếng Thái. Tôi kể em nghe chuyện loài sa mu cổ thụ ngàn năm ở Pù Mát bị lâm tặc rình rập, em thì kể về những ngày mồ côi mẹ, phải lên rừng hái măng từ khi mới mười tuổi. Giữa núi rừng thẳm sâu, giữa tiếng chim rừng và gió núi, chúng tôi sống những ngày thật yên bình. Tôi từng mơ, sau này hết đợt công tác, sẽ xin chuyển hẳn về trạm Pù Huống, làm nhà ở bản, trồng rau bên sàn gỗ, và mỗi mùa dã quỳ, cùng em dắt con đi chơi trên triền núi. Nhưng dã quỳ dẫu rực rỡ đến đâu cũng chỉ nở một mùa.
Ngày tôi nhận quyết định tăng cường về Kỳ Sơn, trời lạnh buốt. Ðêm trước khi đi, em lặng lẽ cài lại cổ áo cho tôi, rồi dúi vào tay một bó dã quỳ còn ướt sương: “Mang theo… kẻo trên ấy không có hoa”. Tôi định nói điều gì, nhưng chẳng thốt được. Giữa lòng tôi, một ngọn gió lạnh vừa thổi qua. Sáng hôm sau, em tiễn tôi ra bến Nậm Ngân. Dòng sông lặng như một dải bạc. Con thuyền nhỏ đưa tôi xuôi về phía những dãy núi mờ xa, còn em thì đứng lại bên mép bến, mãi đến khi tôi khuất hẳn sau rặng lau ngả đầu trong gió.
Tôi đã hứa sẽ quay lại nhưng tôi đã không thể. Công việc, những nhiệm vụ gấp gáp, những mùa cháy rừng triền miên… rồi cả những băn khoăn, lưỡng lự không gọi tên đã giữ chân tôi nơi miền khác. Tôi vẫn mang theo bó dã quỳ ép khô trong ba lô nhưng không trở lại bản Na Ngân như lời đã hẹn.
Nhiều năm sau, tôi nghe tin em vẫn chưa lấy chồng. Người bản bảo, em vẫn hát dân ca mỗi mùa hội, vẫn gùi măng qua dốc Pù Nhinh, và mỗi mùa dã quỳ, vẫn ra triền núi hái hoa như năm nào. Còn tôi giờ là kiểm lâm phụ trách vùng khác, mỗi lần thấy dã quỳ bên đường phố, lòng chợt lặng đi. Dã quỳ miền xuôi cũng vàng, nhưng chẳng thể vàng như triền núi năm xưa. Và cũng chẳng còn ai để tôi cài hoa lên tóc. Người ta hỏi: “Vì sao dã quỳ nở vào mùa lạnh?” Tôi không chắc. Nhưng tôi nghĩ có lẽ hoa sinh ra để sưởi ấm những trái tim đã từng cô đơn giữa đại ngàn. Như em. Như tôi. Như tình yêu chưa kịp gọi thành tên đã hóa thành một mùa hoa. Nếu một ngày tôi trở lại Na Ngân, liệu em có còn đứng bên triền núi ấy không? Dẫu không tôi cũng mong, ít nhất em vẫn rực rỡ như đóa dã quỳ không cần ai gieo, vẫn hát, vẫn cười như năm tháng chưa từng có chia ly.
2. Người bản bảo, em là con gái có duyên. Nhưng em biết, cái duyên ấy bắt đầu từ mùa dã quỳ năm đó – khi anh đến. Hồi ấy, bản Na Ngân còn hoang vu lắm. Con đường từ trung tâm xã vào bản chưa rải nhựa, mùa mưa thì bùn lút gối, mùa khô thì bụi đỏ như mù sương. Vậy mà có anh – một cán bộ kiểm lâm miền xuôi – lội bộ bốn tiếng đồng hồ, gùi ba lô, xách theo sổ tay, bản đồ, máy ảnh để rồi… đứng lạc lối giữa rừng hoa.
Em nhớ mãi buổi chiều đầu tiên ấy. Anh lấm lem bùn đất, mặt lấm tấm mồ hôi, vừa thở vừa hỏi:
– Cô ơi, đây có phải là đường vào Pù Huống không?
Giọng anh khác với người bản. Mắt anh ngơ ngác mà sáng. Em chỉ tay lên triền núi:
– Còn xa lắm. Nhưng nếu anh muốn tìm hoa, thì… kia kìa, cả rừng đang nở. Không ngờ, từ buổi ấy, anh ở lại lâu đến thế. Mỗi chiều tan nắng, em lại thấy dáng anh đi qua bờ suối, trèo lên dốc đá, ngồi nói chuyện với già bản, với mấy đứa học trò em dạy chữ Thái buổi tối. Nhưng lạ nhất là… ánh mắt anh mỗi lần nhìn em, cứ như thể em là người đầu tiên anh gặp giữa đại ngàn vậy. Anh bảo, “ở đồng bằng không có hoa dã quỳ”. Em cười. “Hoa này không cần người trồng. Cứ đến mùa lạnh, nó lại bung nở như những tấm lòng của rừng”. Có lẽ vì thế mà anh hay hỏi chuyện hoa, chụp ảnh hoa, rồi lấy cớ “ghi tư liệu” để được đi hái hoa cùng em.
Mỗi bước đi bên anh, tim em như ngấm một thứ nắng vàng khác, thứ nắng của sự gần gũi mà chẳng cần nói nhiều. Tụi nhỏ trong bản trêu:
– Coi chừng, chị Vân ơi, anh kiểm lâm hớp hồn rồi đó!
Em giả bộ mắng yêu:
– Mấy đứa biết gì!
Nhưng thật ra, em cũng không hiểu nổi trái tim mình từ lúc nào đã nghiêng về anh. Có lẽ là từ lần anh ngồi hong nắng bên suối, cài một bông dã quỳ lên tóc em, nói nhỏ: “Anh mà là người bản… chắc đã cưới em rồi”. Câu ấy, như một sợi chỉ vàng, quấn trong tim em suốt bao mùa hoa sau đó. Nó khiến mỗi khi nhớ lại, tim em nhói lên như nghe tiếng khèn gọi bạn tình vọng từ triền núi xa. Anh rời đi, không đột ngột, nhưng cũng không hẹn ngày trở lại. Chỉ là một cái ôm nhẹ, một bó hoa em dúi vội, và cái nhìn kéo dài mãi khi con thuyền trôi xuống Nậm Ngân. Em đứng rất lâu bên mép nước. Không khóc, nhưng cổ họng thì đắng ngắt như vừa cắn vào quả cà đắng rừng. Từ đó, năm nào đến mùa hoa, em cũng lặng lẽ ra triền núi cũ, hái vài nhành, đem về ép vào sách. Em không học nhiều chữ, nhưng biết giữ lại ký ức theo cách riêng như người bản giữ hạt giống cho mùa sau.
Người bản không nhắc đến anh nữa. Còn em, không ai hay, vẫn giữ chiếc guốc nhựa anh để quên, vẫn treo cái áo kiểm lâm cũ trong buồng như một lời hẹn thầm lặng. Dã quỳ ngoài kia mỗi mùa lại bung vàng rực rỡ, hồn nhiên như chưa từng biết đến chia ly. Còn em, trái tim cũng vàng rực như thế, nhưng mỗi cánh hoa đều mang một vết xước mảnh, như để nhớ rằng: có một mùa hoa đã nở cho hai người, nhưng chỉ một người ở lại ngắm.

3. Mùa đông năm ấy đến sớm hơn thường lệ. Pù Huống phủ một lớp sương trắng như muối rắc. Gió rừng rít qua các triền đồi, quật ngược những tán sa mu, gợi lại trong tôi nỗi cồn cào như thể cả đại ngàn đang thì thầm: “Hãy về lại một lần…”. Tôi quay lại Na Ngân sau bảy năm xa biệt. Không giấy giới thiệu, không công văn, chỉ là một chuyến đi lặng lẽ…. Trên vai tôi không còn ba lô kiểm lâm, mà là một chiếc túi vải bạc màu, trong đó có cuốn sổ tay cũ, một nhành dã quỳ khô đã gãy cuống, và chiếc guốc nhựa mà tôi biết chắc… em vẫn giữ một bên. Ðường vào bản giờ đã đổ bê tông được một đoạn. Có điện lưới, có sóng điện thoại, có cả biển hiệu “du lịch cộng đồng” gắn trước mấy ngôi nhà sàn mới xây. Nhưng dốc Pù Nhinh vẫn còn đó. Và hoa dã quỳ vẫn nở như chưa từng có cuộc chia ly.
Tôi dừng xe dưới chân đồi, lặng lẽ nhìn lên. Trên con dốc quen, một dáng người đang đi xuống, gùi trên lưng một bó củi nhỏ, váy xanh đen đong đưa theo nhịp bước. Là em. Tôi nhận ra ngay từ dáng đi ấy. Nhẹ nhàng. Mộc mạc. Và kiêu hãnh như một phần núi rừng. Em không còn trẻ như ngày xưa, nhưng vẫn là em, đôi mắt vẫn đen và sâu như suối ngủ, mái tóc vẫn thắt sau gáy bằng dải vải thổ cẩm bạc màu.
Tối đó, tôi tá túc ở nhà già Khuôn – người già bản từng theo tôi lên rẫy dựng mốc giới bảo vệ rừng năm nào. Già vẫn nhớ tôi. Cái bắt tay của già vừa vui, vừa có gì đó ngậm ngùi. Ðêm ấy, tôi và già Khuôn uống rượu cần tận khuya.
Sáng hôm sau, tôi lên núi. Triền hoa năm ấy vẫn nguyên vẹn như trong ký ức. Những bông dã quỳ run rẩy trong gió, sắc vàng thắp lửa giữa trời mù sương. Tôi bước đi thật chậm, như sợ giẫm lên những mảnh ký ức chưa kịp nguội. Và rồi tôi thấy em. Em đang hái hoa, cẩn thận, từng cánh một, như thể không phải hái hoa mà đang nâng niu điều gì đó rất mong manh. Gió thổi làm váy em bay nhẹ, mái tóc rối khẽ rung bên má. Lần này, tôi không để em lướt qua nữa.
– Vân!
Em khựng lại. Ðôi tay khựng trên cành hoa, tấm lưng nhỏ run lên. Rồi em từ từ quay lại. Khoảnh khắc ấy, tôi thấy tất cả năm tháng giữa chúng tôi – bảy mùa hoa, bao mùa lặng thinh, bao điều chưa nói – đều hiện lên trong mắt em. Chúng tôi đứng đó. Không ai bước lại. Cũng chẳng ai hỏi: “Tại sao anh không quay lại sớm hơn?” Hay: “Em có chờ không?” Chỉ có gió rừng thổi qua, và dã quỳ cứ nở như chưa từng có mùa tàn. Một lúc lâu sau, em khẽ hỏi:
– Anh có còn giữ lời hứa không?
Tôi gật đầu rồi mở túi vải, đưa em cành dã quỳ khô đã ép suốt bảy năm:
– Em còn giữ chiếc guốc nhựa của anh không?
Em không trả lời. Nhưng nước mắt thì rơi, rơi như sương xuống lá. Buổi chiều hôm ấy, tôi không về trạm. Tôi ngồi cùng em bên bếp lửa nhà sàn. Chúng tôi không kể lại những gì đã qua. Chỉ là… cùng nhau hong khô lại mùa hoa năm cũ. Ngoài kia, triền núi vẫn rực vàng. Dã quỳ lại nở. Và em… vẫn ở đó, đợi tôi!
4. Tôi ở lại Na Ngân ba ngày. Ba ngày trôi qua như giấc mơ, êm đềm và mỏng mảnh, khiến tôi sợ cả tiếng chuông điện thoại reo cũng đủ làm vỡ tan tất cả. Buổi chiều thứ ba, tôi được gọi về trạm kiểm lâm dưới chân núi. Có đoàn khảo sát sắp đến, dự án bảo vệ rừng giai đoạn mới chuẩn bị triển khai. Họ cần tôi, người từng dày dạn thực địa, thông thạo địa bàn, đã có nhiều năm theo dấu lâm tặc dọc rừng Pù Huống. Tôi nhìn giấy phân công, rồi ngẩng lên nhìn núi. Ngoài kia, triền dã quỳ vẫn đang vào độ vàng nhất. Nhưng trong lòng tôi, một trận gió khác đang nổi lên.
Sáng hôm sau, trời đổ mưa. Trên triền dốc, dã quỳ rũ mình ướt sũng. Em tiễn tôi xuống chân núi, lặng lẽ như bảy năm trước. Nhưng lần này, không có bến sông, không có con thuyền khuất bóng. Chỉ có tôi, đứng trong làn mưa, nhìn em qua lớp sương mỏng, mà thấy như nhìn qua một khung ký ức.
Tôi lên xe nhưng khi máy nổ, tôi không nhấn ga. Tay đặt trên vô lăng, tôi nhắm mắt. Một câu hỏi vang lên trong đầu: “Anh chọn điều đúng… hay chọn điều mình muốn?” Tôi đã từng sống cả tuổi trẻ vì cái đúng. Nhưng hôm nay… tôi muốn thử sống một lần vì điều khiến trái tim mình run rẩy. Tôi mở cửa xe, bước xuống. Em vẫn đứng đó, không ngạc nhiên, không hỏi han. Chỉ là một cái mím môi rất nhẹ, rồi quay lưng bước về phía con dốc như biết chắc rằng tôi sẽ theo sau. Và tôi đi theo.
Tuần sau, tôi nộp đơn xin điều chuyển công tác chính thức về Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống. Không phải ai cũng hiểu quyết định đó, kể cả những người thân thiết nhất của tôi. Mẹ tôi gọi lên, giọng nghèn nghẹn: “Sao con lại bỏ việc ở huyện? Ở đó vừa ổn định, vừa gần nhà… Lên núi rồi lấy gì mà sống?” Tôi im lặng. Chẳng biết phải giải thích thế nào cho vừa lòng tất cả.
Về Na Ngân, tôi dọn ra sống trong một căn lán cũ của kiểm lâm dựng tạm từ mùa cháy rừng năm trước. Sườn núi phía sau là dốc đá lở loét, mỗi khi mưa xuống là đất đỏ trôi như thác nhỏ. Mùa lạnh ở đây không chỉ có sương mù mà còn có cả ánh mắt lạnh của người bản. Những ngày đầu, tôi đi gõ cửa từng hộ, làm quen lại từ đầu. Có nhà mời tôi uống chén nước, có nhà chỉ khẽ gật đầu. Tôi cùng anh em trong đội tuần rừng, dựng lại lán trạm kiểm lâm cũ, vá mái, đắp lối mòn lên đỉnh Pù Nhinh. Tôi cặm cụi như người mới học lại chữ sau bao năm quên lãng. Chỉ có em là không đổi. Em không nói gì khi tôi dọn về ở hẳn. Không hỏi tương lai, không dò ý định. Chỉ thỉnh thoảng đem sang ít xôi nếp, ít rau rừng, hay một củ gừng già treo trước cửa. Những món quà lặng lẽ như chính sự hiện diện của em trong cuộc đời tôi. Tôi bắt đầu học thêm tiếng Thái, tập ăn măng chua nấu ớt hiểm, học cột dây giày tre, rọc lạt đan rổ, và thổi kèn bè. Có đêm, mấy đứa trẻ con chạy sang lán kiểm lâm, đòi tôi kể chuyện phố. Tôi ngồi giữa ánh đèn dầu, kể cho chúng nghe về xe buýt, về rạp chiếu phim và cả những đoạn đường đầy hoa dã quỳ. Một cụ bà trong bản từng nghi tôi, giờ chậm rãi hỏi: “Anh ở lại… thật à?” Tôi cười, không trả lời. Hôm sau, cụ gửi sang một bó đậu rừng phơi khô. Không nói gì. Tôi hiểu người bản đã bắt đầu tin tôi.
Cuối đông năm ấy, bản tổ chức lễ hội cơm mới, đón mẹ lúa về nhà. Tôi được mời xếp hàng nhảy sạp cùng trai bản. Em đứng bên đám lửa, áo váy rực rỡ, mắt như suối đầu nguồn. Tôi nhìn em, rồi bước lên sạp, lóng ngóng giữa tiếng khèn và tiếng chiêng. Nhưng lần này, không ai cười. Họ vỗ tay. Em tiến lại gần, tay đưa tôi một vòng hoa dã quỳ: “Ðể em cài cho anh”. Tôi cúi đầu. Em gài bông hoa lên ngực tôi, đúng chỗ tim đập. Và tôi biết, cuối cùng, tôi không còn là “kẻ lạ” nữa. Tôi là người ở lại.
5. Ðêm đầu tháng Chạp, sương mù kéo xuống dày đặc như khói, trùm kín lối mòn quanh dãy Pù Nhinh. Tôi đang trực đêm ở lán thì điện thoại đổ chuông. Là một cuộc gọi vội vàng từ đội tuần tra bên tiểu khu 421. Giọng người đầu dây hoảng hốt: “Có khói bốc lên từ rìa rừng giáp Nậm Ngân! Anh lên được không?” Tôi bật dậy. Gió bấc rít qua khe cửa gỗ như một điềm gở. Ðám cháy vào mùa khô là chuyện đáng sợ nhất với người làm rừng. Chỉ cần một tàn lửa nhỏ, cả mảng xanh có thể hóa tro. Chúng tôi lao vào đêm, cật lực dùng bình chữa cháy, cành dương quật lửa, cuốc rãnh ngăn cháy lan. Khói cay mắt. Mồ hôi ròng ròng giữa giá lạnh. Mùi cây cháy, tiếng lửa lép bép, tiếng gió gào… Bỗng giữa lúc rối ren, có người hét lên: “Có dấu chân người! Lán lâm tặc gần đây!” Tôi thắt tim. Không chỉ là cháy, đây có thể là một vụ phá rừng có chủ đích. Chúng tôi lần ra một lán tạm dựng vội, dấu vết còn mới. Dăm thanh gỗ pơ mu bị cưa dở. Một can xăng dở. Ðúng như tôi nghĩ: có người đã cố tình châm lửa để xóa dấu vết sau khi chặt trộm gỗ. Tôi cầm bộ đàm, gọi hỗ trợ từ kiểm lâm và công an huyện, rồi quay sang nhóm anh em: “Giữ nguyên hiện trường. Còn đám cháy… mình quay lại dập nốt. Không để mất thêm tấc rừng nào nữa!”
Cả bản Na Ngân cũng kéo lên giúp chúng tôi. Khi đám cháy được khống chế thì đã gần sáng. Cả vùng đồi ngập trong màu tro và mùi khét. Tôi ngồi bệt xuống đất, thở dốc. Ánh sáng đầu ngày rọi lên khuôn mặt đen nhẻm vì khói lửa. Lúc ấy, tôi nghe tiếng bước chân quen thuộc trên lá khô. Em chạy đến, vai khoác tấm chăn, tay cầm bình nước và một gói xôi nóng trong lá chuối. “Em nghe bản báo có cháy… Em lo quá!” Tôi ngước nhìn em. Dưới ánh sáng lờ mờ, khuôn mặt em ửng đỏ vì sương và lo lắng. Mắt em ngấn nước, giọng run run: “Rừng cháy… em tưởng sẽ mất anh lần nữa…”. Tôi đưa tay nắm chặt lấy tay em. Lần này không phải là lời hứa suông, cũng không phải ánh mắt lặng lẽ hôm chia tay năm nào. Ðây là thực tại, nơi giữa khói lửa và thử thách, tôi chọn ở lại. Không chỉ để giữ rừng. Mà còn để giữ một người.
Ba ngày sau, lực lượng chức năng bắt được hai kẻ đốn gỗ. Chúng khai thuê nhóm dân lạ mặt đốt lán để xóa dấu. Tin ấy lan ra khắp bản. Người ta bắt đầu nhìn tôi bằng ánh mắt khác. Tối hôm đó, ông trưởng bản ghé lán tôi. Mang theo một chai rượu ngô, nói: “Hồi trước tôi nghi anh. Nhưng giờ… bản có người như anh, chúng tôi mừng.” Rồi ông vỗ vai tôi: “Cưới đi. Mùa dã quỳ năm nay nở đẹp lắm. Tôi nghe già Khuôn nói, khi nào anh cưới già cho con trâu mà.” Tôi nhìn trưởng bản, cười.
6. Tháng Mười Một năm ấy, hoa dã quỳ lại nở vàng rực rỡ trên khắp các triền núi Pù Huống. Cả bản Na Ngân rộn ràng trong tiếng cười nói, tiếng cồng chiêng, váy xòe thổ cẩm bay rợp sân nắng. Mùa cưới về với núi và với hai con người từng lỡ hẹn, từng đi qua những mùa nhớ dài đằng đẵng. Tôi đứng giữa sân bản, trong bộ áo chàm người Thái, hơi lóng ngóng khi được đám trai bản đội khăn đỏ lên đầu, vỗ vai cười ha hả: “Chàng rể miền xuôi chịu ở rể bản ta rồi nhé!” Còn em – cô dâu với búi tóc ngược, cổ đeo vòng bạc, váy thổ cẩm in họa tiết dã quỳ – vừa e ấp, vừa rạng rỡ như hoa. Trong ánh mắt em không còn hoài nghi hay đợi chờ, chỉ còn tin yêu và một nụ cười như nắng cuối thu đủ để tôi thấy mình thuộc về nơi này, mãi mãi.
Ðêm ấy, lửa hội bập bùng giữa sân bản. Rượu cần chuyền tay, điệu khèn ngân lên những giai điệu gọi mùa. Tôi nắm tay em nhảy giữa vòng xòe, không còn vụng về như năm nào. Mỗi bước chân giờ đây là một nhịp hòa chung giữa tôi và em, giữa người miền xuôi và miền núi, giữa hai tâm hồn từng xa nhau nhưng đã tìm lại được nhau. Chúng tôi chọn dựng một ngôi nhà nhỏ ở lưng chừng dốc, nơi có thể nhìn xuống dòng Nậm Ngân lững lờ trôi, nơi hoa dã quỳ mọc kín mỗi độ cuối thu. Tôi vẫn làm kiểm lâm, em tiếp tục dạy chữ cho bọn trẻ trong bản. Những buổi sáng sớm, em gùi măng, tôi vác cuốc, tay nắm tay đi qua con đường từng chứng kiến buổi gặp đầu tiên. Em hay hỏi:
– Anh có bao giờ tiếc vì đã chọn ở lại không?
Tôi chỉ cười, nhìn những vạt hoa vàng run run trong gió:
– Nếu phải chọn lại một lần nữa, anh vẫn chọn em. Và chọn rừng.
Và tôi nghĩ… có lẽ vì tình yêu chân thành khi đã bén rễ trong lòng người, cũng giống như hoa dã quỳ nơi đây, sẽ mãi nở, qua hết mùa này đến mùa khác. Như em. Như tôi. Như chuyện tình đã không còn dang dở…
Vi Hợi















