Hồi ức của người lính đặc công Ngô Văn Hoằng

Tôi gặp cựu lính đặc công Ngô Văn Hoằng tại nhà riêng đúng dịp ông dự lễ kỉ niệm 50 năm giải phóng Thừa Thiên Huế của thị xã Hương Thủy trở về. Căn nhà nhỏ ấm áp nằm trên đường Minh Tân, thành phố Vinh là nơi ông sinh sống cùng vợ hiền và con cháu. Cũng chính nơi đây, bạn bè, đồng đội của ông vẫn thường xuyên lui tới chuyện trò, ôn lại một thời hoa lửa.

Nhà riêng của ông Ngô Văn Hoằng là nơi gặp gỡ thường xuyên của Ban liên lạc cựu chiến binh đặc công thành phố Vinh

Viết đơn xin nhập ngũ

Chiến tranh đã lùi xa nhưng ông Ngô Văn Hoằng vẫn luôn giữ phẩm chất của một người lính. Vẫn ánh mắt kiên định, phong thái chững chạc, giọng nói đầy khí chất hào sảng. Bên chén trà nóng thưởng thức cùng món mứt gừng là quà mang về từ Huế, ông Hoằng cùng tôi ôn lại cuộc đời của một người lính đặc công.

Ông Ngô Văn Hoằng sinh ngày 12/8/1954 ở xóm Minh Tân, xã Hưng Bình, thị xã Vinh (nay là khối Tân Tiến, phường Hưng Bình, thành phố Vinh). Sinh ra trong gia đình có 10 người con, gia cảnh đói nghèo, nhưng ông vẫn được gia đình cho ăn học đến nơi đến chốn. Năm 1972, chiến tranh đang diễn ra ác liệt, trong làng ông cũng bị đánh phá khắp nơi. Lúc này ông đang học lớp 7, hoạt động trong đội dân quân tự vệ địa phương. Có lần ông nói với các bạn “Có lẽ ta phải xin đi bộ đội thôi, có chết cũng phải chết ở chiến trường”. Thế rồi cậu học trò Ngô Văn Hoằng đã cùng một số bạn trong lớp viết đơn lên đường xin nhập ngũ. Sau 2 lần viết đơn, cuối cùng cũng được cấp trên đồng ý. Ngày 25/5/1972, ông nhập ngũ. Trong số 21 người cùng xã nhập ngũ lần này thì lớp ông có 5 bạn, ngoài ông ra còn có Đậu Đình Dương, Trần Văn Toàn, Hoàng Khắc Ngọc, Nguyễn Quang Sơn.

Mong muốn của ông là được làm lính lái xe hoặc đặc công. Không lâu sau đó, mong ước ấy đã trở thành hiện thực khi ông được Bộ Tư lệnh đặc công gọi lên đường đi huấn luyện.

Ông về đơn vị C1D17E61F305 Bộ Tư lệnh đặc công và huấn luyện ở huyện Chương Mỹ, Hà Tây từ tháng 5 – 12/1972. Ngày 25/12/1972 nhận được lệnh của cấp trên, đơn vị của ông lên đường vào Nam chiến đấu. Sau 2 tháng hành quân gian khổ, có những lúc phải đi bộ vòng qua nước Lào, rồi lại vòng về. Ông được điều về đơn vị C2K33 Đặc công Quân khu Trị Thiên, đóng quân gần sông Ba Lòng gần cao điểm 365, 367 huyện Cam Lộ, Quảng Trị. Gần 1 tháng sau thì dời về chân dốc Ông Già thuộc địa phận sông Hai Nhánh (Hương Thủy, Thừa Thiên Huế). Đến tháng 5/1973 ông được điều ra trường Quân chính Quân khu Trị Thiên ở Quảng Trị làm đội mẫu cùng 21 đồng chí khác. Sau 4 tháng ông được điều làm giáo viên chiến thuật, đào tạo cho những cán bộ chưa qua trường lớp. Tháng 1/1974, ông về đơn vị C5K33, đến tháng 4/1974 theo tình hình mới, cấp trên điều biệt phái 12 đồng chí về hoạt động vùng sâu ở 2 huyện Phú Lộc và Hương Thủy, Thừa Thiên – Huế. Ông cùng với 5 đồng chí về đặc công C3 Hương Thủy, hoạt động vùng sâu giáp ranh đồng bằng. Với nhiệm vụ mới này, ông đi cùng biệt động địa phương, ngày nằm hầm, tối đến mới lên nối liên lạc lấy tin tức cung cấp về cấp trên. Sau 2 tháng hoàn thành nhiệm vụ tại hầm bí mật, ông được điều về đơn vị tiếp tục chiến đấu. Ông tham gia chiến đấu ở Hương Thủy từ tháng 4/1974 đến khi giải phóng Thừa Thiên – Huế 3/1975.

Ông Hoằng cho biết cuộc đời làm lính đặc công, ông đã tham gia 6 trận đánh, và đi trinh sát 2 trận. Tôi hỏi “Là một người lính đặc công cần có kĩ năng gì để hoàn thành nhiệm vụ”, ông nói: “lính đặc công cần phải bí mật, bất ngờ, luồn sâu, lót sát; đánh trong đánh ra, đánh nở hoa trong lòng địch. Tuy nhiên, khi ra trận, tùy vào tình hình thực tế để vận dụng”.

Ông Ngô Văn Hoằng cùng đồng đội thăm lại chiến trường xưa

Lằn ranh sinh – tử

Nhắc đến cuộc tổng tiến công nổi dậy mùa xuân năm 1975, bao nhiêu kí ức của một thời đạn bom như ùa về trong ông. Tâm sự với tôi, ông dành nhiều thời gian kể về trận đánh cuối cùng, đó là chiến dịch đợt 2 giải phóng cố đô. Tháng 3/1975 khi thời cơ giải phóng Thừa Thiên – Huế chín muồi, C3 được chia làm 3 mũi phối hợp cùng các đơn vị chủ lực giải phóng thành phố Huế. Mũi của ông gồm có 9 đồng chí do ông làm mũi trưởng. Tối 17 rạng 18/3/1975 đánh các căn cứ Lăng Xá Bàu, Nhất Đông, Văn Thê của xã Thanh Thủy Chánh, cách thành phố Huế khoảng 6 km. Tối 18/3 khi có lệnh rút, 2 mũi đi vào hướng nam, mũi của ông đi về hướng bắc và rút lên rừng. Rạng sáng ngày 19/3, mũi của ông do chưa kịp rút lên rừng, bắt buộc phải nằm lại cánh đồng lúa giáp ranh giữa hai xã Lăng Xá Bàu và Thủy Dương. Sáng ngày 19/3, khi phát hiện đã bị lộ, mũi trưởng Ngô Văn Hoằng phân cho 3 tổ nằm đều ở 3 ruộng nước, mỗi ruộng 3 đồng chí. Khoảng 10 giờ, có 2 đứa trẻ đi lấy câu ở ruộng nên mũi của ông bị phát hiện. 30 phút sau, địch điều 2 chiếc trực thăng từ sân bay Phú Bài lên lượn quạt mấy vòng, rồi bắn xối xả. 5 đồng đội của ông đã hy sinh. Địch điều tiếp 2 trực thăng lên đổ quân thẳng xuống ruộng càn quét, thêm 2 đồng chí nữa hy sinh. Vậy là 7 đồng đội của ông đã hy sinh, địch thu giữ toàn bộ tài liệu, quân trang, quân dụng, vũ khí. Ông và đồng chí Lộc – mũi phó sống sót nhờ nằm ruộng nước.

Trong tình thế đó, để di chuyển được dễ dàng, ông và đồng chí Lộc chỉ giữ lại mỗi người 30 viên đạn, 1 khẩu AK, 1 quả lựu đạn dùng để tự sát khi cần. Sau đó, ông cứ ruộng sâu mà nhảy xuống; qua được 3 ruộng, đồng chí Lộc bị phát hiện, địch bắt đưa lên trực thăng đưa về.

Sau khi đồng chí Lộc bị bắt, ông tiếp tục chạy, từ ruộng này nhảy qua ruộng khác, đi tới đâu xóa dấu vết tới đó, đến 2 giờ, địch điều thêm 4 xe GMC dàn hàng ngang tiếp tục truy tìm. Khi gần như kiệt sức, ông ẩn mình dưới ruộng nước, lặn sâu, dùng cây năn để thở. Tôi chợt thốt lên hỏi: “Lúc đối diện với sinh tử, ông suy nghĩ về điều gì”? Ông đáp lời, “Khi đó cũng chẳng nghĩ được gì nhiều, chỉ có nín thở giữ chắc súng trong tay, và nghĩ với 30 viên đạn này ít nhất cũng phải diệt được mấy chục tên địch trước lúc hy sinh”. Địch dàn hàng ngang càn quét, khi cách chỗ ông nằm khoảng 30m thì đột ngột rẻ ra 2 hướng. Ông may mắn thoát khỏi vòng vây. Sau đó, ông lên bờ tìm nơi ẩn nấp, tối đến mới quay lại tìm đồng đội. Nhìn thấy 7 đồng đội đã hy sinh, có đồng chí còn bị mất rất nhiều phần cơ thể, ông đau xót tột cùng. Tuy nhiên, một mình ông không thể làm gì khác, đành phải gạt nước mắt thầm vĩnh biệt 7 đồng đội rồi tìm đường trở lại đơn vị tiếp tục chiến đấu.

Ông Hoằng dừng câu chuyện, rưng rưng. Nhấp một ngụm trà, ông mới tiếp tục được câu chuyện.

Trên đường tìm về đơn vị, trên người chỉ mang bộ đồ mỏng, vừa đói lại vừa rét vì đang tháng Ba, để có sức, ông tút đòng đòng ăn, đến 2 giờ sáng tìm vào một khu lăng mộ ngủ, gần sáng dậy tìm bụi rậm ẩn nấp. Có lần, đang trốn trong bụi cây, ông suýt bị lộ vì người dân đi cuốc cỏ sắn, đi chăn trâu. Khoảng 4 giờ chiều, ông phát hiện chiếc hầm bí mật của mình ở điểm cao 228, chờ trời tối ông men theo hướng đó mà đi. Khi đã thấm mệt thì may mắn gặp 2 đồng chí đang đi tìm mình, rồi cùng nhau trở về đơn vị bổ sung quân trang.

Chiều 22/3/1975, ông có mặt ở Hương Thủy, sau đó cùng đơn vị tham gia chiến đấu. Sau khi Thừa Thiên – Huế được giải phóng, ông chuyển sang công tác huấn luyện tân binh cho đến ngày chiến dịch Hồ Chí Minh hoàn toàn thắng lợi và thống nhất đất nước. Nơi ông xin về tiếp tục huấn luyện tân binh là xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy. Khi về đây tìm hiểu thì ông mới biết 7 đồng đội của ông sau khi hy sinh bị địch lấy bạt kéo lên đồi gần chùa Kim Sơn và chôn chung trong 2 cái hố. (Năm 1976, 7 liệt sĩ được quy tập về Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Thừa Thiên Huế trên núi Thiên Thai).

Sống trọn nghĩa tình

Tháng 10/1975 ông Hoằng trở về Bắc an dưỡng, tiếp tục công tác ở đoàn 405 an dưỡng Quân khu 4, đến năm 1977, làm việc ở một đơn vị vận tải hành khách Nghệ Tĩnh cho đến khi nghỉ hưu. Dù phải lo cuộc sống mưu sinh nhưng ông luôn cánh cánh nỗi lòng với những người đồng chí, đồng đội đã từng vào sinh ra tử với mình. Gia đình ông cũng có 4 người nhập ngũ, trong đó có một người hy sinh là liệt sĩ là Ngô Văn Hùng; 5 người bạn học cùng lớp cùng lên đường nhập ngũ năm nào may mắn được trở về sau hòa bình, nhưng còn rất nhiều đồng chí, đồng đội của ông đã hy sinh, thân xác gửi lại nơi chiến trường, có người còn chưa tìm thấy mộ. Những trăn trở đó luôn đau đáu thường trực trong ông, thôi thúc ông làm nhiều việc để trả nghĩa ân tình.

Ông Ngô Văn Hoằng về lại chiến trường xưa thắp hương cho đồng đội đã hy sinh

Ngày 19/3/1997, Ban liên lạc cựu chiến binh đặc công thành phố Vinh được thành lập, do ông làm trưởng ban. Khi thành lập có 80 người, nay do mất đi nhiều nên còn còn 60 người, trong đó rất nhiều thương binh, gia đình liệt sĩ. Từ khi thành lập đến nay, ông cùng các đồng chí, đồng đội trong ban tham gia nhiều hoạt động ý nghĩa như quy tập hài cốt liệt sĩ về với quê hương (quy tập được 5 liệt sĩ), giúp đỡ đồng đội cùng gia đình vượt qua khó khăn bởi thiên tai… Nhiều lần ông cùng đồng đội trở về Huế, lên núi Thiên Thai thắp hương cho 7 đồng đội đã hy sinh và nằm lại nơi đây. Nhiều lần ông cùng lặn lội không ngại đường sá xa xôi cùng đồng đội đi tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ về với quê hương. Nhiều lần ông trở về chiến trường xưa thăm và tri ân những người đã cưu mang, che chở mình… Ông bày tỏ niềm vinh dự và tự hào khi được cùng Ban liên lạc cựu chiến binh đặc công thành phố Vinh ra thủ đô viếng lăng Bác, được thăm và chúc sức khỏe đại tướng Võ Nguyên Giáp tại nhà riêng ngày 28/3/2008. Trước đó đoàn đã được vào tham quan nhà truyền thống của Đại tướng. Ông vẫn còn nhớ rõ những lời thăm hỏi động viên ân cần của Đại tướng: “Năm nay tôi đã 97 tuổi, tôi vẫn khỏe các đồng chí cứ yên tâm. Đoàn chúng ta có chị em không, cho tôi gửi lời hỏi thăm và chúc sức khỏe các đồng chí không có mặt hôm nay”. Ông cũng luôn ghi nhớ lời dặn dò của Đại tướng: “Các đồng chí phải chăm sóc, dạy dỗ cho các cháu học hành thật tốt để sau này phục vụ cho đất nước. Các đồng chí đã về đời thường nhưng phải cố gắng phát huy rèn luyện, tham gia công tác địa phương, xứng đáng là bộ đội Cụ Hồ, đặc biệt phát huy bề dày truyền thống của người chiến sĩ đặc công đã được Đảng, Nhà nước, quân đội đã dày công đào tạo”.

Ông Hoằng gìn giữ bộ đồ gắn với cuộc đời quân ngũ của mình

Giờ đây, dẫu vẫn mang trong mình vết thương chiến tranh với tỷ lệ thương tật 3/4, dẫu mắt trái không còn nhìn rõ nhưng ông vẫn hăng hái tham gia mọi hoạt động của hội cựu chiến binh địa phương, của ban liên lạc cựu chiến binh đặc công thành phố Vinh. Ông cho tôi xem một số kỉ vật chiến trường, trong đó có bộ đồ cùng chiếc túi khi thực hiện nhiệm vụ được ông giữ gìn rất cẩn thận. Nâng niu bộ đồ trên tay, cựu lính đặc công Ngô Văn Hoằng như luôn muốn nhắc nhở mình về lẽ sống cao đẹp của người lính thời chiến cũng như thời bình.

Lê Nhung