
Tôi đến phá vào một trưa tháng Sáu trong chuyến đi thực tế của trại viết lý luận phê bình văn học. Nắng đổ thẳng đứng từ đỉnh trời, trút xuống mặt nước lớp ánh sáng lấp lóa. Gió từ biển Thuận An ùa vào, hun hút mặn. Kỳ lạ thay, giữa cái chói chang ấy, không gian lại tĩnh mịch như một giấc ngủ trưa của làng quê. Và rồi trước mắt hiện ra một mặt nước mênh mông, xanh bạc, trải dài như nỗi nhớ không tên.

Phá Tam Giang – nơi ba dòng sông hội tụ như ba sợi tơ dệt nên một tấm thảm nước mênh mông. Từ thượng nguồn sông Hương, sông Bồ và sông Ô Lâu, phù sa theo con nước đổ về, mang theo cả chuyện xưa tích cũ, tiếng ru buổi chợ sớm và hơi thở của một miền quê lặng lẽ. Đó không chỉ là một khối thủy văn, đó còn là một không gian văn hóa, là tuyến thủy lộ thiêng liêng đưa kẻ sĩ, quan quân, bao bước chân thượng kinh về đất cố đô. Nơi đây từng là con đường nước dẫn lối cho vua chúa nhà Nguyễn, từng là rào chắn tự nhiên của kinh thành Huế. Mỗi con sóng vỗ nhẹ dưới mạn thuyền như còn âm vang tiếng gọi đò năm xưa của bao lớp người xuôi ngược: “Thương em anh cũng muốn vô/ Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”… Ở đó, nước mang theo phù sa, mang theo những huyền thoại, những trầm tích lặng lẽ hun đúc nên một “chất Huế” sâu lắng và đầy kiêu hãnh.
Khi chúng tôi bước chân xuống con đò nhỏ nơi bến Cồn Tộc, bác lái đò nhìn ai nấy lỉnh kỉnh máy ảnh, sổ tay bằng nụ cười móm mém: “Mấy cô mấy chú chắc ra phá lần đầu hỉ? Phá rộng lắm… nhưng vô rừng bần là mát lòng mát dạ.”
Gió lộng. Nắng như lưỡi lửa mỏng miết ngang mặt nước. Bầu trời xanh thẳm không một gợn mây, trải ra như tấm lụa căng, óng ánh những đường tơ nắng vàng. Thuyền trôi nhẹ giữa phá, nước Tam Giang loang loáng ánh sáng, từng lớp sóng nhỏ vỗ lên mạn gỗ như lời ru của sông.
Trên con thuyền gỗ cũ, mỗi người ngồi lặng đi theo một kiểu. Có người ngước nhìn trời. Có người gác cằm lên tay, để gió xoa mái tóc rối. Có người khẽ mở sổ tay, ghi dòng gì đó như thể vừa bắt được một “tia sáng”. Tam Giang không cần lời, mà khiến người ta tự nguyện lặng im.
Bác lái đò người tầm thước, nước da đen sạm vì gió nắng, nheo mắt nhìn xa: “Đi lúc ni là nắng lắm mà đẹp… phá Tam Giang là rứa mà!”
Giọng bác đặc chất Huế, vừa chậm rãi vừa ấm áp. Bác vừa chèo, vừa kể chuyện phá như kể về người bạn cũ: “Ni mô, cái lạch ni, gọi là lạch cây bần. Mới trồng hơn ba năm à. Nhưng lớn nhanh lắm. Rứa mới biết đất ni mặn mà biết thương cây…”
Thuyền đi chầm chậm qua một rạch bần. Hàng bần xanh rì như rừng cổ tích, lá thả xuống nước thành từng vệt, thân cây đổ bóng trên sóng, rễ phụ nhô lên như hàng trăm bàn tay trụ vững. Những cây bần rủ lá xanh như liễu, thân cây in xuống mặt nước như nét bút vẽ bản in khắc gỗ. Dưới tán lá rợp, bóng nắng đan chéo, nước chảy êm, gió rì rào và thời gian như chậm lại. Chúng tôi vừa ngắm rặng bần hai bên vừa lắng nghe, anh bạn văn ngồi cạnh nhẹ nhàng vươn tay bứt một trái bần từ cành rủ ngang. Quả tròn dẹt, vỏ xanh ngà, cuống có nhiều cánh tỏa ra như ngôi sao nhỏ. Anh cười: “Tặng em trái bần – thứ quả nhà nghèo, nhưng là ký ức không nghèo. Thử đi, chua mà ấm lắm.” Tôi nhận lấy, cầm trong tay mà ngỡ như đang cầm một vùng đất.
Bác lái đò lên tiếng, giọng trầm mà thân tình:
– Bần giữ đất, giữ phá, giữ luôn cái hồn làng. Không có bần, đất ni trôi hết. Vì bần ni mọc từ bùn, nhưng sống khỏe lắm. Như đàn bà vùng ni rứa… ướt hết cả đời, mà vẫn vững vàng…
Bác vừa nói, vừa chỉ tay về phía xa – nơi có những dáng người lom khom giữa nước. Tôi nhìn theo. Những người đàn bà đang dầm mình dưới làn nước đục ngầu, tay thoăn thoắt cào hến, lưng cong như cánh cung. Tay họ cào hến, gạt bùn, đôi lúc nhấc lên một rổ hến nhỏ rồi lại tiếp tục. Gió lật tà áo nâu, nắng in bóng trên lưng, mái tóc ướt rủ xuống, sự tảo tần như đã ăn sâu vào thịt da, mặt sạm nâu mà ánh mắt sáng trong.
– Họ sống như rứa từ đời mô đến giờ – Bác lái đò thủng thẳng, giọng buồn như một khúc ru – Ướt suốt đời mà không hề than thở. Có bữa lũ về, nước ngập đến ngực, vẫn chèo, vẫn mò hến nuôi con ăn học.

Tôi bỗng nghĩ đến mẹ mình, những buổi trưa nắng, áo ướt đẫm mồ hôi, tay vẫn thoăn thoắt vá áo cho con. Hình như mỗi vệt bùn dưới phá là một nhịp tim mẹ, mỗi trái bần xanh là một nỗi nhớ về mẹ trong tôi…
Gió phá ào đến, kéo theo mùi bùn non, mùi nước lợ, mùi rong rêu – mùi đời thật thà đến thắt lòng. Tôi cúi đầu. Trái bần trong tay đã tỏa mùi thơm nồng. Mùi chua chát, mùi tuổi thơ, mùi nắng mưa và cả mùi ký ức. Tôi cắn nhẹ một miếng. Vị chát đầu lưỡi, rồi dần dần ngọt dịu nơi cuống họng, như thấm cả nắng gió miền Trung.
Chiều xuống, nắng loang tím mặt nước. Mặt trời đỏ như trái bần chín, đang lặn chậm sau rặng cây cuối trời, làn nước loang sắc vàng, bóng dáng cây bần in trên mặt sóng như một vệt ký ức kéo dài mãi mãi. Tôi bất giác ngân nga mấy câu hát trong bài “Chiều trên phá Tam Giang” mà nhạc sĩ Trần Thiện Thanh phổ từ thơ Tô Thùy Yên: “Chiều trên phá Tam Giang, anh chợt nhớ em. Nhớ sao là nhớ…”
Gió thổi mạnh hơn, thuyền nghiêng nhẹ, mặt trời như chạm vào đầu mái chèo. Thuyền cập vào bến Cồn Tộc, nơi những gánh hàng, nia thúng và nụ cười quê lấp lánh trên vai những người phụ nữ đang rảo bước. Một chị bán cá ghé thuyền, dúi vào tay tôi mấy trái bần gói trong lá chuối: “Cầm lấy mà nếm. Bần ni chua, chớ nấu món chi cũng nhớ quê. Đem về mần mứt, kho cá hay làm lẩu đều ngon hết.” Tôi cười, nhận lấy, lòng mềm đi như nước phá khi về chiều.
Trên đường quay vào bờ, mặt trời bắt đầu hạ xuống phía chân sóng. Mặt nước nhuộm sắc tím, cam, hồng loang loáng, như một bức tranh được ai đó vẩy màu rất khẽ. Phá Tam Giang là vậy. Sáng sớm, nước mờ sương, thuyền rẽ sóng như mũi tên chậm rãi xuyên qua tranh thủy mặc. Trưa về, trời như lò nung, nước ánh vàng, cây bần hiện rõ từng đường gân, từng cuống quả. Chiều xuống, trời tím sẫm, mặt phá như gương soi bóng hoàng hôn. Gió chiều thổi mặn. Những cánh chim nước vút qua như nét chấm phá cuối cùng cho một ngày. Không ai nói gì. Mọi người trên thuyền lại lặng đi, lần này không phải vì ngỡ ngàng mà vì không nỡ rời.
Trên chuyến bay rời Huế, tôi nhìn xuống phá một lần nữa. Vẫn là những hàng cây bần xanh rì, những mái nhà nhỏ nép bên vàm nước, con đò nhỏ xíu như dấu chấm trong bản trường ca nước lợ và những người đàn bà như dấu lặng trong bản hòa âm sông nước. Tôi dường như vẫn nghe văng vẳng câu hát của anh lái đò bên bến Cồn Tộc:
“Phá Tam Giang rộng lắm ai ơi
Có ai về Sịa với tôi thì về
Ðất Sịa có lịch có lề
Có sông tắm mát, có nghề làm ăn”
Hà Vinh Tâm














