Ngày đầu vào Sài Gòn

Đây là Dinh Độc Lập. Xe tăng, xe tải của bộ đội đỗ dài suốt con đường lớn trước cổng của tòa nhà. Nhiều người dân thành phố đã tụ về, nhiều lá cờ Giải Phóng to nhỏ phấp phới.

Những người lính vương chút ngượng nghịu khi được tung hô vẫy chào. Tôi đứng khuất vào một gốc cây lớn, nhìn đồng đội, nhìn những người dân, mắt cay lên, những giọt nước mắt từ từ lăn xuống.

Chính quyền Sài Gòn vừa công bố đầu hàng sáng nay. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 chắc chắn là một ngày chói lọi của lịch sử đất nước. Không biết Hà Nội thế nào, có thể ở nơi xa ấy nước mắt còn nhiều hơn cả nơi kết thúc này.

Chúng tôi ở trong căn phòng của viên Đại tá thuộc Cục Chiến tranh chính trị ngụy. Buổi tối lính bỏ qua chiến tranh, chỉ nói chuyện kỷ niệm học trò rồi chuyện tương lai.

Nói tới tương lai, tôi hơi bàng hoàng, sực nhớ cái đêm này là một đêm phải ghi nhận. Tôi đứng lên lững thững đi ra cổng.

Đường Hồng Thập Tự (Võ Thị Sáu) hơi dốc. Hai hàng đèn đường tỏa sáng. Hai dãy nhà ngủ vùi. Vỉa hè cũng giống như mọi vỉa hè của mọi thành phố, nó chẳng bao giờ ngủ.

Im lặng quá. Không biết có thể gặp một đêm im lặng đến như thế này trong đời nữa không.

Bất chợt tôi quyết định bước ra mặt đường, ngồi phệt xuống chính giữa đường, khoanh chân, nhìn thẳng về phía trước. Những con gió của miền Nam thiu thiu trải trên phố vắng. Tiếng ve bên sở thú rêm rêm ngân dài.

Lúc này mới thực sự bàng hoàng. Một cái gì đó từ vòm trời tĩnh mịch ập vào thân thể tôi làm cho da thịt tê cứng.

Tờ báo rách, bao ni lông rách xẹc qua xẹc lại trên mặt đường làm cho tôi muốn bật khóc. Ôi trời mọi việc quá bình thường. Tôi đập đập tay xuống nền nhựa cứng ngắc, nó vẫn còn giữ hơi ấm của ban ngày.

Trở về, tôi gặp hai người lính đang đứng gác, khẩu AK đeo ngang trước bụng. Một người nói:

– Đồng thanh nào!

– Đồng thanh gì?

– Ai muốn gì thì gì. Tùy ý.

Ba thằng đứng quay mặt vào nhau, đặt tay lên vai nhau, một hai ba: “Ô… ô… ô…” tiếng hô vang to giữa trời khuya. Hai người lính vung súng lên, vừa nhảy vừa hét: “Hòa bình… hòa bình… hòa bình…”.

Đây là Sài Gòn, sáng nay là sáng ngày mồng Một tháng Năm, ngày sinh của tôi. Đây là năm 1975, năm thứ tư đời quân ngũ, năm cuối cùng của cuộc chiến tranh.

Bồn chồn, tự nhiên nảy ra ý muốn đi sang Sở thú, nơi rừng ve vẫn đang triền miên rỉ rả.

Cổng Sở thú mở toang. Một người đàn ông cầm cái chổi dài đang đu đưa với đám lá xao xác. Thấy tôi, ông dừng lại. Tôi gật đầu chào.

Người quét lá hỏi:

– Bộ đội đi coi Sở thú?

– Tôi ghé qua thôi. Bác quét lá sớm quá.

– Dạ tui làm nghề này gần hai chục năm rồi. Mấy bữa nay không quét, ngó không được…

Người đàn ông chắc cũng đã ngót sáu mươi. Tôi với ông cùng ngồi xuống bên vệ cỏ. Người già ra ý trân trọng người trẻ, còn người trẻ thì thấy trong lòng thoải mái, hỏi han đủ chuyện.

Người già kể chuyện hôm qua ông đã đạp xe đi xem Giải Phóng như thế nào, rồi nói:

– Tui thấy bộ đội thiệt lạ nghen…

– Sao bác?

– Anh thấy, từ lính của Hít-le, lính TácTa của Thành Cát Tư Hãn, rồi lính của Na-pô-lê-ông nữa… chiến thắng là cướp bóc, hãm hiếp tơi bời… Quyền của người thắng mà. Không ai oán trách được… Bộ đội thì không, mới lạ chớ!

– À, đấy là những cuộc chiến xâm lược. Còn mình là chiến đấu giành độc lập, không lẽ mình lại cướp của mình?

– À há. Hay quá! Đơn giản thiệt nghen, vậy mà tui nghĩ không ra… Lính Sài Gòn khi tháo chạy cũng cướp giật tơi bời đó nghe anh.

Rồi ông hỏi tôi chuyện về miền Bắc, về bộ đội. Đặc biệt sững sờ khi nghe nói chúng tôi đi đánh nhau không có lương.

– Ở trong này thì khác. Trung úy là có xe zép chạy rồi. Đại úy thì có thêm người hầu. Cấp tá thì khỏi nói. Họ làm giàu bằng tiền của Mỹ, gạo cũng của Mỹ, cái gì cũng Mỹ hết. Mỹ cắt một cái là không còn gì hết…

Đấy là cuộc đối thọai đầu tiên trong ngày đầu của trang mới đời tôi. Người quét rác trong Sở thú là người dân Sài Gòn đầu tiên tôi gặp.

Trần Luân Tín