Tôi biết nhà thơ Hồ Phi Phục khi ông còn làm Bí thư Huyện ủy Quỳnh Lưu với tập thơ đầu tay ấn tượng “Sóng Bãi Ngang”. Tôi được nghe đồn rằng ông là nhà lãnh đạo yêu văn hóa văn học nghệ thuật; tôn trọng tài năng, nhất là thế hệ trẻ; yêu thương con người. Ông Bạch Hưng Đào, nguyên Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy nói với tôi: “Ông Hồ Phi Phục là một trong những bí thư viết văn bản tốt nhất trong các bí thư huyện ủy.” Sau đó ông được điều lên làm Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, tham gia Ban Thường vụ, rồi Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy. Tôi thực sự quen biết và làm việc dưới quyền ông khi ông chuyển sang làm Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tỉnh cho đến lúc nghỉ hưu.
Con người văn chương
Gần ông, được làm việc với ông, nhìn cách ông đối nhân xử thế, nghe ông nói chuyện và kể chuyện, tôi ngộ ra ông là người hiểu biết sâu sắc trên nhiều lĩnh vực, không chỉ văn hóa văn học nghệ thuật, lịch sử mà còn cả về kinh tế và chính trị, mặc dù ông xuất thân là kỹ sư cơ khí Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.
Lần theo gia phả mới biết ông xuất thân trong một gia đình Nho học nổi tiếng ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An, vùng đất khoa bảng danh thắng, văn hóa và cách mạng. Ông nội Hồ Phi Phục là Hồ Phi Huyền, một nhà tân học, triết học đầu thế kỷ 20. Hồ Phi Huyền đỗ cử nhân năm 1900 (đồng khoa với Phan Bội Châu) nhưng không ra làm quan mà tham gia các phong trào cách mạng và bị chính quyền thực dân bắt giam, rồi sau đó ông về dạy học, bốc thuốc chữa bệnh, viết sách và xây dựng quê hương, nổi tiếng với tác phẩm triết học “Nhân đạo quyền hành”. Thân sinh Hồ Phi Phục là Hồ Phi Tường cũng là nhà nho, làm nghề bốc thuốc dạy học, có tham gia làm cán bộ xã. Mẹ ông là con của gia đình quan lại Nho học. Thuở nhỏ, nhà thơ Hồ Phi Phục được GS Đặng Thai Mai nuôi dạy, đưa đến sống ở làng Quần Tín, Triệu Sơn, Thanh Hóa – thủ phủ của trung tâm văn học kháng chiến khi ấy.
Ông là người đọc nhiều, nhớ giỏi đến mức trích dẫn văn chương không cần xem sách. Ông đi nhiều, tiếp xúc nhiều, từng trải nhiều cảnh huống nên kinh nghiệm sống rất phong phú. Trên nền học vấn và kinh nghiệm ấy, ông có quan điểm sống, cách sống, tư duy và thái độ ứng xử thời thế rất biện chứng, khoa học, nhân văn.
Đối với con người, ông trân trọng tài hoa, học vấn và nhân cách. Sống vì công quên tư, dám hy sinh vì nghĩa lớn.“Người đi trong mây mù đỉnh núi/ Lặn lội trăm năm cho ngàn năm”; “Cùng chúng sinh nối dòng kiếp trước/ Dặm đường cát bụi bước bình tâm”. Ông ghét kẻ bảo thủ trì trệ, tham quyền cố vị, vơ vét, bòn mót của dân; sống kệch cỡm, xa hoa trụy lạc, mặc áo quá đầu làm cho dân khổ.
“Hoàng hôn cho bình minh/[…] Dừng chân cho người đi”, đó là quan niệm sống của ông. Ông cho rằng nỗi khổ của dân chúng bắt nguồn từ lòng tham và thái độ vô trách nhiệm, con người phải có trách nhiệm: “Từ khi có hàng rào/ Là có ngay gậy gộc gươm đao/ Lịch sử những cuộc sát phạt triền miên/ Quay vòng lá rụng” hay “Lâu lâu chúa buồn/ Thèm ngôi cao hoàng đế/Thèm con gái vàng bạc/ Đất đai nhiều thêm nữa”. Ông chán ghét những biểu hiện lạ lùng của thế giới này: “Miệng hô hào hòa bình/ Lại đầu tư cho vũ khí hạt nhân”.
Trong sự nghiệp văn chương, ông có hơn 10 tác phẩm đã xuất bản đủ các thể loại: thơ, tản văn, bút ký, tùy bút, truyện, lý luận phê bình và chuyên luận. Tôi thích nhất vẫn là “Sóng Bãi Ngang”, “Hoa đại”, “Kinh tế ngầm” và tản văn của ông. Tác phẩm nào cũng lạ và mới, đầy sáng tạo; tính khái quát cao, ẩn chứa trí tuệ, lung linh màu sắc triết học. Cũng vì những điểm này mà cố nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã từng nói với tôi “Thơ anh Phục phảng phất màu sắc triết học, khó đọc, khó tiếp cận, khó phổ nhạc và kén độc giả. Đọc thơ Hồ Phi Phục phải ngẫm nhưng ai đã đọc thì mê.”
Về cách sống và quan điểm sống, nhà thơ Hồ Phi Phục tôn trọng người có năng lực, biết dùng người hợp lý. Ông yêu quý trẻ nhỏ, người cao tuổi; ứng xử văn hóa, dễ chịu; thể hiện phong cách lịch lãm, hiểu biết của người có học và gia giáo. Ông sống giản dị, chi tiêu khoa học, ghét đồng bóng, trọc phú xa hoa. Có lần được đi công tác với ông, trong bữa ăn mọi người bàn chuyện ăn ngon, ăn dở. Ông nói “Bữa ăn ngon trước tiên là ăn hết trong mâm”. Ông ghét nịnh bợ, tâng bốc lãnh đạo, nhất là gắp thức ăn cho cấp trên. Có lần, một tay trưởng phòng gắp thức ăn cho ông, ông ôn tồn nói, “Cậu gắp cho mình, lỡ mình không thích thì sao, hóa ra cậu tra tấn mình à?” Lại chuyện một lãnh đạo hỏi ông: “Anh thấy nhà em có đẹp không?” Ông trả lời: “Muốn biết đẹp hay xấu trước hết anh phải nói xây cái nhà này hết bao nhiêu tiền cái đã”. Đến thăm nhà ông, ông tự tay pha trà mời khách, không hài lòng khi khách tự pha trà mời lại ông.
Tôi trở thành người yêu thơ và thích làm thơ là nhờ ông “kích hoạt”. Ông viết bài giới thiệu tập thơ đầu tay của tôi, nhờ nhà thơ Thạch Quỳ đọc lại, đưa tôi đi nhà xuất bản… Tôi trân trọng và quý ông từ đó đến giờ. Cảm phục trước một nhân cách lớn, tôi có bài thơ tặng ông với tiêu đề “Đọc thơ anh”:
Đọc thơ anh hoàng hôn Thấy ngày mai bình minh Đọc thơ anh dừng chân Cho ngày mai người đi Cảm nhận giản đơn Có được dễ gì Tháng ngày hoài niệm…
Anh làm thơ Thơ anh xa xăm Anh viết văn Những trang đời sâu thẳm Đọc chậm và nghĩ suy Thấy người đầy thừa thãi Thấy ai chẳng có gì…
Có người “vái ba vái” Chúc bếp núc công đường “Vái thêm hai vái” Gửi tâm hồn văn chương…
Đọc tác phẩm của ông, tôi thấy ông tha thiết với môi trường, yêu rừng, yêu màu xanh, yêu tiếng chim hót, hoa thơm cỏ lạ. Đặc biệt, triết luận về mùa xuân và con người thì hình như chưa ai nói theo cách của ông: “Cứu cánh của con người là mùa xuân, từ mùa xuân để con người hiểu về gốc gác, cội nguồn, quê hương, để con người biết yêu thương con người”.
Nhà thơ Hồ Phi Phục vẫn viết lách đều mặc dù đã cận kề tuổi 90.
Và những chuyện bếp núc công đường
Thời đất nước còn khó khăn, dân còn khổ, cán bộ đi làm chủ yếu là đi bộ, đường sá đâu được như bây giờ, có người đi bộ tận 12 km. Là cán bộ chủ trì huyện, thương anh em, ông họp Ban thường vụ quyết định cho cán bộ vay tiền mua xe đi làm và trừ dần vào lương. Sau cùng, anh em có xe đi và vẫn trả được nợ cho cơ quan. Cán bộ cảm ơn ông vô kể. Tưởng là chuyện bếp núc nhưng không, đây là cả một vấn đề về đạo đức, tình thương của người lãnh đạo đối với đồng chí, đồng nghiệp.
Thời ông còn làm Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tỉnh, chuẩn bị cho Đại hội, để có báo cáo chính trị sát đúng, nhất là phần khuyết điểm, tồn tại cũng như định hướng nhiệm kỳ tới, ông triệu tập cán bộ góp ý và sửa chữa văn bản trong suốt hai ngày (dù ông nổi tiếng là một lãnh đạo viết các văn bản rất tốt). Ông cho văn phòng ghi lại từng ý kiến, tính số lần và chất lượng phát biểu từng người để trả tiền bồi dưỡng. Ông nói với tôi: “Chỉ có như vậy mới động não được cán bộ, tập hợp được trí tuệ tập thể, phát huy được dân chủ và để kẻ dốt không có cơ hội nói dại”.
Khi Thường vụ Tỉnh ủy thảo luận về quy chế đề bạt cán bộ, đặt vấn đề “Đề bạt giám đốc sở do Ban Thường vụ quyết định, đề bạt các phó giám đốc do Thường trực quyết định”, ông không đồng tình. Ông cho rằng “Đề bạt giám đốc sở rất quan trọng nhưng đề bạt phó giám đốc sở cũng quan trọng không kém vì họ sẽ là nguồn lên giám đốc. Quan điểm cán bộ là phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, dự nguồn… quan trọng hơn việc đề bạt. Ai sẽ chịu trách nhiệm về đề bạt cấp phó kém để sau này làm cấp trưởng? Vậy nên tất cả đều phải do Thường vụ quyết định.”
Ông tâm sự, cán bộ cấp trên đi công tác xuống cơ sở là cả một vấn đề lớn. Có cán bộ về cơ sở chỉ “cưỡi ngựa xem hoa”, không phát hiện được gì, chẳng giúp cơ sở được gì, chỉ tốn thời gian cơm rượu và quà cáp của cấp dưới và tốn cả tiền xăng xe, công tác phí. Chỉ nghe báo cáo thì thấy toàn cái hay làm sao tìm được cái dở, nên phải biết lân la mấy cái quán nước trước cổng ủy ban, huyện ủy… thì chuyện hay dở đều có, mới ra vấn đề.
Những ngày ông nghỉ hưu tại quê nhà – làng Quỳnh, nơi nổi tiếng ngàn năm văn vật, trí thức, khoa bảng, danh thần – ông thấy vui và cho rằng nông thôn hiện nay “Nơi vẫn còn nước mắt đầy vơi/ Những niềm vui và bão tố cuộc đời” nên lòng nặng sẻ chia đau đáu.
Ông hồi tưởng: “Thời mình còn làm cán bộ, Chủ nhật, vợ con vẫn kéo xe bò lên truông Gia Lách chặt củi. Ai có duyên nợ, ngày Tết họ vẫn cho quà nhưng chỉ là một chai rượu chanh, hai gói kẹo lạc, một lạng trà, hai gói thuốc lá Sông Lam, sang hơn thì thuốc Thăng Long. Chỉ chừng đó thôi lòng đã thấy vui nhưng vẫn sợ láng giềng cạnh khóe. Giờ người ta tặng cho nhau tiền tỷ, thậm chí triệu đô, nghe ra mà sợ. Chuyện bếp núc công đường giờ ghê quá! Được sống gần dân lòng không vướng bận, mấy ông hàng xóm qua lại thời sự và trà nước thường xuyên, mình thấy vui và thanh thản, vẫn sống khỏe, viết lách đều mặc dù đã cận kề tuổi 90. Không như ai đó về hưu phải dời nhà đi chỗ khác.”
Ông kể và viết về chuyện nhỏ nhưng không bao giờ nhỏ trong tôi… Đọc thơ ông, lắng nghe quan điểm của ông, nhìn cách ông đối nhân xử thế và ngẫm lại cuộc đời, tôi lại nhớ những dòng thơ ông viết:
“Cứ quay và cứ bay, gió của đêm trừ tịch, gạt nỗi niềm năm cũ, ngày mai những tia nắng đầu tiên, như phần thưởng lớn lên của mặt trời…”.