Nhà thơ, nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát – nguyên Phó Cục trưởng Cục Điện ảnh Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch thường trực Hội Điện ảnh Việt Nam – khởi nghiệp là chiến sĩ Văn công Trường Sơn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ngoài 8 tập thơ đã xuất bản, như: Nhớ và khát, Biển đêm, Bài ca số phận, Gió thổi tràn qua mặt, Cỏ thơm mây trắng, Những con sóng… Nguyễn Thị Hồng Ngát còn là tác giả của nhiều kịch bản phim truyện điện ảnh, như: Một thời đã sống, Canh bạc, Ký ức Điện Biên, Anh sẽ về, Nhìn ra biển cả, Hồng Hà nữ sĩ… Nhiều tác phẩm thơ và điện ảnh của chị đã được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Điện ảnh Việt Nam, Bộ Văn hóa – Thông tin…, đặc biệt là Giải thưởng Nhà nước về VHNT năm 2012.
Nguyễn Thị Hồng Ngát là dâu thứ của nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng Hoài Thanh, quê ở xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc trước đây. Trong cuộc trao đổi chuyện đời, chuyện nghề mới đây với nhà thơ Mai Nam Thắng, Nguyễn Thị Hồng Ngát thừa nhận chị là người thấm đẫm “chất Nghệ” và “nếu có kiếp sau, tôi vẫn mần… du Nghệ”.
Tạp chí Sông Lam trân trọng kính mời bạn dọc theo dõi cuộc trò chuyện này!

Áo xanh, túi chéo một thời…
Nhà thơ Mai Nam Thắng (MNT): Thưa nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát, nhà văn cựu chiến binh Chu Lai có lần đã nói, đại ý: cuộc chiến tranh vệ quốc của chúng ta sẽ nghèo đi nhiều lắm nếu không có những cô gái thấp thoáng trong rừng già. Bóng dáng của các cô làm mềm đi cả chết chóc, nó làm tươi xanh lại những cánh rừng bom đạn. Là người đã có mặt ở Trường Sơn trong những năm chiến tranh, chị có nghĩ, có thấy như thế không?
Nhà thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát (NTHN): Nhà văn Svetlana Alexievich được giải Nobel Văn học có cuốn sách nổi tiếng “Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ”, đó chỉ là một cách nói về những hi sinh vô bờ bến của phụ nữ trong chiến tranh. Ở đâu và thời nào thì người phụ nữ nói chung, người phụ nữ Việt Nam nói riêng, luôn là điểm tựa tinh thần, là chỗ dựa tâm linh để dân tộc bươn chải, vượt qua những giai đoạn lịch sử cam go, khốc liệt nhất… Và chẳng riêng trong chiến tranh khốc liệt, mà ngày nay, đây đó nhiều khi hình ảnh những cô gái trong bộ quân phục nghiêm ngắn và nền nã, cũng khiến cho cuộc sống đỡ bức xúc hơn, đáng yêu hơn, tin cậy hơn… Đó là những nữ nghệ sĩ và vận động viên tài năng của Quân đội ta được công chúng trong nước và cả ở nước ngoài ngưỡng mộ. Đó là những cô gái mũ nồi xanh gắn ngôi sao vàng “đi dân nhớ, ở dân thương” tại nhiều điểm nóng trên thế giới. Và hẳn chúng ta chưa quên hình ảnh các nữ quân nhân bên các “Quầy hàng không đồng” dã chiến, cùng những nữ chiến sĩ quân y tuổi đời còn rất trẻ, bất chấp hiểm nguy trong đại dịch covid-19 năm kia…
Nhà thơ MNT: Đất nước Việt Nam vốn có truyền thống “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”, thì phụ nữ không chỉ hi sinh mọi thứ mà còn trực tiếp ra trận, cầm súng đánh giặc cứu nước. Và trong đội ngũ những người lính đặc biệt ấy, nhiều người đã viết văn, làm thơ “ghi lấy cuộc đời mình”, trở thành những tác giả tên tuổi của nền VHNT nước nhà. Tác giả Nguyễn Thị Hồng Ngát đã trở thành “nhà thơ mặt trận” như thế nào, thưa chị?
Nhà thơ NTHN: Năm 1968 tôi mới 18 tuổi, vừa được tuyển về Nhà hát chèo Việt Nam là được cử đi phục vụ chiến trường. Tức là, tôi vào chiến trường để hát phục vụ chiến đấu, chứ không phải để làm thơ hay viết văn. Nhưng rồi thơ đến với mình lúc nào chẳng biết, rồi gắn bó suốt đời. Ngày tôi ra mặt trận, đã xuất hiện một thế hệ những cây bút nữ sống và viết trên chiến trường, như các chị: Dương Thị Xuân Quý, Trần Thị Thắng, Lê Minh Khuê, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây, Vũ Thị Hồng, Phạm Hồ Thu v.v… Họ đều là lứa thanh nữ sàn sàn tuổi nhau, sinh khoảng những năm 1949-1950, trừ Dương Thị Xuân Quý sinh năm 1941. Tức là, khi họ vào tuổi thanh niên thì cũng là lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt, tuổi trẻ cả nước hăng hái lên đường với tâm niệm “cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”… Đó là những nhà văn, nhà thơ “Áo xanh, túi chéo xanh vào Trường Sơn” – câu thơ của Mai Nam Thắng mà tôi rất thích.
Nhà thơ MNT: Cảm ơn chị đã nhớ câu thơ trên đây của tôi trong bài thơ “Hoa tím Lèn Hà” viết về các nữ chiến sĩ năm xưa. Chị có thể nói thêm đôi điều về các đồng nghiệp của mình trong đội ngũ “Áo xanh, túi chéo, xanh vào Trường Sơn”?
Nhà thơ NTHN: Chỉ nói riêng về thơ, nhiều nữ thi sĩ Trường Sơn sau chiến tranh vẫn tiếp tục viết và đạt được những thành tựu quan trọng. Chẳng hạn: nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là phóng viên xông xáo trên đường Trường Sơn ngay trên quê mẹ Quảng Bình. Bài thơ Khoảng trời, hố bom viết năm 1972 của chị, được xếp vào hàng những bài thơ hay nhất thời chống Mỹ, cho đến tận hôm nay vẫn còn khiến nhiều thế hệ độc giả thổn thức: “Chuyện kể rằng em cô gái mở đường/ Để cứu con đường đêm ấy chẳng bị thương/ Cho đoàn xe kịp giờ ra trận/ Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa/ Đánh lạc hướng thù hứng lấy luồng bom…”. Nhà thơ Trần Thị Thắng tốt nghiệp Khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1970. Năm 1971, chị khoác ba lô vượt mấy nghìn cây số đường Trường Sơn vào chiến trường miền Đông Nam Bộ, làm báo và viết văn tại mặt trận. Đến nay chị đã xuất bản 15 tập thơ, trường ca, truyện ngắn và tiểu thuyết. Phạm Hồ Thu cũng chọn chiến trường để sống và viết sau khi tốt nghiệp đại học. Đến nay, chị đã xuất bản 5 tập thơ với nhiều giải thưởng văn chương. Năm 2017, tập trường ca viết về đường Trường Sơn huyền thoại của chị đã đoạt giải thưởng chính thức của Hội Nhà văn Việt Nam nhân kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ…

Nhà thơ MNT: Trong số các cây bút nữ trưởng thành từ Trường Sơn khói lửa, Nguyễn Thị Hồng Ngát và Lê Thị Mây vào chiến trường khi mới tốt nghiệp phổ thông, không phải để làm báo viết văn mà là để chiến đấu và phục vụ chiến đấu, như chị vừa trao đổi. Nhưng hiện thực chiến trường đã khiến các chị thăng hoa cảm xúc thành thơ. Một trong những bài thơ trong thời gian này của Nguyễn Thị Hồng Ngát đã đoạt giải thưởng cuộc thi thơ năm 1973 của báo Văn Nghệ – Hội Nhà văn Việt Nam. Hoặc như chị Lê Thị Mây, vào chiến trường là để vá đường, sửa cầu, san lấp hố bom rồi trở thành nhà thơ, được Giải thưởng Nhà nước về VHNT… Chị đánh giá, hoặc có những ấn tượng gì về Lê Thị Mây, nhà thơ của “Vầng trăng ban ngày”?
Nhà thơ NTHN: Lê Thị Mây có một hoàn cảnh tương tự nhiều cựu quân nhân và TNXP Trường Sơn. Tuổi thanh xuân của các chị gửi lại trên những cung đường hỏa tuyến, để khi trở về thì nhiều người như vầng trăng sau rằm, cứ ngày nối ngày héo mòn hao khuyết vì sự nhỡ nhàng. Đó là căn nguyên vầng trăng luôn ám ảnh, day trở trong thơ chị. Trong hàng trăm thi ảnh về trăng của Lê Thị Mây, có một vầng trăng đã làm nên “thương hiệu” của chị, đó là vầng trăng “Em tái nhợt niềm vui/ Như trăng mọc ban ngày” (Vầng trăng ban ngày). Đây là một vầng trăng kinh điển, diễn tả tâm trạng của một người con gái khi bất ngờ được đón người yêu từ chiến trường trở về. Trăng thời chiến trong thơ Lê Thị Mây cũng là ánh trăng của cả một thế hệ, của cả dân tộc trong cuộc kháng chiến muôn vàn hi sinh gian khổ vì độc lập-tự do của Tổ quốc. Còn đây là vầng trăng trên “Ba lô chiến sĩ” của Lê Thị Mây: “Gió đèo hun hút lưng ta cõng/ Nặng trĩu hai vai một vầng trăng/ Nặng trĩu hai vai hồn Tổ quốc/ Liềm trăng nghiêng đỡ bước lặng im”…
“Du Nghệ” là… trời định!
Nhà thơ MNT: “Nhà xưa xây mới lại rồi/ Quả cà muối cũng mặn mòi đường duyên/ Người quê anh thảo lại hiền/ Đời em liệu có đáp đền được chăng?/ Mưa trên sông Lam giăng giăng/ Tay ai nâng trái cam vàng ngày xưa/ Bây giờ cam cũng đang mùa/ Em về như thể người vừa mới xa/ “Gừng cay” cũng chẳng nề hà/ Quê anh “Muối mặn” giờ là quê em…”. Hơn ba chục năm trước, chị đã viết những câu thơ gan ruột như thế trong bài thơ “Quê anh xứ Nghệ”. Thưa chị, cơ duyên nào đã khiến chị trở thành “du Nghệ”?
Nhà thơ NTHN: Đôi khi tôi cứ nghĩ, cuộc đời tôi sinh ra là để gắn bó với đất và người xứ Nghệ. Và “mần du Nghệ” là cái số trời đã định. Bởi đời tôi có 3 “cột mốc” quan trọng nhất thì đều xuất hiện những người Nghệ là “quí nhân phù trợ”. Ấy là cái thời học phổ thông, tôi được thầy giáo Nguyễn Viết Giao, quê ở huyện Yên Thành (cũ), Nghệ An dạy dỗ suốt 3 năm học Cấp 2 ở trường làng. Thầy Giao giảng văn rất hay, với giọng Nghệ là lạ, nghe lâu thấy ấm áp thân thương vô cùng. Thầy là người đầu tiên đã truyền cảm hứng văn chương để tôi tiếp tục đeo đuổi nghiệp chữ cho đến nay. “Cột mốc” thứ hai là khi đã ngấp nghé trước cánh cửa ngôi đền văn chương, tôi được 2 ông đồ Nghệ danh tiếng là nhà thơ Hoàng Trung Thông và nhà thơ Võ Văn Trực đứng tên giới thiệu kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Trước và sau “cột mốc” này, cả hai nhà thơ trên đây luôn quan tâm giúp đỡ tôi như những người anh lớn, chăm chút từng bài thơ tôi gửi tới báo Văn Nghệ và luôn động viên giúp đỡ tôi trong công việc cũng như trong cuộc sống…
Nhà thơ MNT: Thế còn “cột mốc” thứ ba?
Nhà thơ NTHN: Đó là khi tôi rơi vào tình trạng chênh chao hụt hẫng sau sự đổ vỡ của hạnh phúc gia đình, thì Tiến sĩ Phan Hồng Giang, một trí thức đậm đặc cốt cách người Nghệ, đã đến với tôi, trở thành mái ấm che chở, chỗ dựa vững chắc cho tôi. Và chúng tôi đã sống êm ấm, hạnh phúc bên nhau suốt ba chục năm có lẻ… Hơn 3 năm trước, anh Giang qua đời ở tuổi 82, tôi đã đưa anh về an nghỉ trong nghĩa trang của dòng họ chúng tôi ở xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên…

Nhà thơ MNT: Chị và Tiến sĩ Khoa học Phan Hồng Giang, nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa – Nghệ thuật Việt Nam, đã gặp gỡ và bén duyên với nhau như thế nào? Tự bao giờ?
Nhà thơ NTHN: Hình như khoảng năm 1977. Một lần, nhà thơ Bằng Việt rủ tôi đến chơi nhà anh Phan Hồng Giang, một ông “đồ Nghệ” điển hình, cùng công tác ở tạp chí Tác Phẩm Mới của Hội Nhà văn Việt Nam. Anh Bằng Việt không biết rằng tôi vốn rất quý mến người Nghệ và “chất Nghệ” như đã kể trên đây. Vì thế mà sau nhiều lần tiếp xúc, tôi thực sự quý mến anh Giang như một người thầy, người anh khả kính.
Năm 1981, tôi được Nhà nước cử đi du học tại Trường Đại học Sân khấu và Điện ảnh Liên Xô (VGIK), thì Phan Hồng Giang cũng được cử sang Liên xô làm nghiên cứu sinh. Hai người ở hai thành phố khác nhau, thường xuyên thư từ thăm hỏi, động viên nhau và vẫn coi nhau như đồng nghiệp, vì lúc đó chúng tôi đều đang có gia đình riêng. Phải hơn chục năm sau đó, khi 2 người đã về nước và trở thành những người độc thân được pháp luật công nhận, chúng tôi mới chính thức đến với nhau…
Nhà thơ MNT: Hỏi thật nhé: Có khi nào chị khó chịu vì bị trêu chọc là “du Nghệ”, là “dân cá gỗ”?
Nhà thơ NTHN: Người Nghệ thường bị coi là “gàn”, đôi khi đến mức cực đoan. Nhưng trong cái “gàn” ấy là cốt cách kiên cường, tinh thần khảng khái, sự chịu thương chịu khó và khát vọng vươn lên mãnh liệt. Trên mảnh đất khắc nghiệt nắng gió và thiên tai, con người nơi đây vừa mộc mạc, vừa kiêu hùng, vừa khắc khổ lại phóng khoáng… Người Nghệ “ngông, gàn” nhưng lại được nhiều người quý mến vì họ cũng là người sống thẳng thắn, khảng khái và nhiều khi cũng hào phóng, không hay tính toán lợi ích cho bản thân. Một ví dụ nhé: anh em trong gia đình người Nghệ thường nhường nhịn nhau trong việc thừa kế tài sản, hương hỏa, không sòng phẳng chi li như nhiều nơi khác. Còn như giai thoại “cá gỗ”, tôi lại hiểu đó như ngụ ngôn về đức tính hiếu học, nghị lực vươn lên hơn là ám chỉ tính tằn tiện, sĩ diện. Mặt khác, người Nghệ lại có truyền thống hiếu học, thích tự trào, biết cười chính mình. Bởi thế, chuyện “cá gỗ” không chỉ bị gán ghép từ bên ngoài mà dần dần được chính người Nghệ chấp nhận, thậm chí biến thành một phần bản sắc văn hóa của xứ Nghệ.
Nhà thơ MNT: Những năm gần đây, khi đã bước qua cột mốc “cổ lai hi”, chị vẫn sáng tạo không ngưng nghỉ. Tính riêng trong lĩnh vực điện ảnh, chị đã liên tiếp hoàn thành 2 bộ phim truyện nhựa thuộc loại hàng “khủng”. Năm 2019 là bộ phim “Truyền thuyết về quán Tiên” với vai trò Giám đốc sản xuất, biên tập phim, kiêm… chạy kinh phí. Tác phẩm đã đoạt Giải thưởng Bộ Quốc phòng 5 năm 2014-2019 về VHNT. Năm 2024 là bộ phim cổ trang “Hồng Hà nữ sĩ” với vai trò tác giả kịch bản và Giám đốc sản xuất. Đây là bộ phim thuộc loại khó làm đối với các nhà làm phim Việt hiện nay, bởi chính đề tài “cổ trang” của nó. Bộ phim hấp dẫn người xem bởi lối kể chuyện tiết chế và chọn lọc, nhiều trường đoạn không có lời thoại nhưng vẫn kể được rất nhiều. Được biết, chị lại vừa hoàn thành kịch bản văn học bộ phim truyện điện ảnh “Ông Ké”, kể về giai đoạn Bác Hồ về nước, hoạt động ở vùng đất Cao Bằng trước năm 1945. Xin hỏi: Sức lực đâu mà chị làm việc quần quật như thế?
Nhà thơ NTHN: Thú thực, tôi cũng không biết giải thích thế nào cho chính xác. Có lẽ, đó là do cái phẩm chất chịu thương chịu khó, ham học hỏi và giàu nghị lực vươn lên của con người xứ Nghệ đã thấm vào trong con người tôi qua bạn bè, đồng nghiệp và những “quí nhân phù trợ”; nhất là từ khi tui được mần du Nghệ!
Nhà thơ MNT: Xin cảm ơn chị và chúc chị tiếp tục thăng hoa sáng tạo, cả thơ và điện ảnh!
Nhà thơ MAI NAM THẮNG thực hiện















