Những bức thư trước ngày Sài Gòn giải phóng

Đã 50 năm trôi qua, kể từ ngày ông cùng đồng đội tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhưng những bức thư, cuốn nhật ký ghi lại khoảnh khắc nhìn thấy Sài Gòn trong giờ phút khải hoàn mãi là những hình ảnh không bao giờ quên trong tâm trí ông Hồ Trọng Thanh, nguyên là chiến sỹ Trung đoàn 266, Sư đoàn 341.

Gia đình ông Hồ Trọng Thanh xem lại những bức thư thời chiến

Viết huyết thư xin ra trận

Men theo con đường đê nhỏ vào làng, chúng tôi đến thăm ông Hồ Trọng Thanh ở Hưng Thịnh, Hưng Nguyên, Nghệ An. Sinh năm 1954, khi vừa tròn 18 tuổi, chàng thanh niên Hồ Trọng Thanh đã tự nguyện lên đường vào Nam chiến đấu. “Ngày đó, chứng kiến và nghe đài phát thanh thông tin đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh khắp cả hai miền Bắc – Nam, nhân dân ta bị đàn áp, tra tấn dã man, tôi căm thù lắm. Mặc dù nhà chỉ còn mỗi mẹ già, là con trai duy nhất lại còn đang đi học phổ thông nhưng tôi vẫn quyết tâm viết huyết thư tình nguyện lên đường cầm súng để tiêu diệt kẻ thù. Cấp trên đồng ý đơn nhập ngũ, vậy là tôi chính thức trở thành một người lính, được ra trận”. Ông Thanh kể mà tựa như ông đang hào hứng viết tâm thư với một quyết tâm mãnh liệt của tuổi “bẻ gãy sừng trâu”.

Tháng 12/1972 ông nhập ngũ ở đoàn 22A, Quân khu 4 đóng ở Yên Thành, Nghệ An. Sau thời gian huấn luyện, ông được phân về Đại đội 14, Trung đoàn 266, Sư đoàn 341 làm nhiệm vụ chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ.

Ông đã tham gia nhiều trận đánh, trên nhiều chiến trường như trận ở Xuân Lộc, Long Khánh thuộc tỉnh Đồng Nai và Sài Gòn… Ông chia sẻ rằng: “Trong suốt thời gian chiến đấu, có những nhiệm vụ vô cùng vất vả, khó khăn, nhưng những người lính như chúng tôi vẫn rất quyết tâm, đoàn kết để cùng nhau vượt qua. Có thể trong một phút giây nào đó, giữa hòn tên mũi đạn, chúng tôi vẫn trở về và đó đã là kỳ tích rồi…”.

Một kỷ niệm đáng nhớ của ông là trong trận giải phóng thị xã Xuân Lộc diễn ra từ ngày 9/4 đến 21/4/1975. Sau khi nhận lệnh, ông và đồng đội hành quân vào trận địa ở Xuân Lộc thuộc tỉnh Đồng Nai. Địa điểm này được giới quân sự xem là “cánh cửa thép”, nếu ta giải phóng được sẽ rất thuận lợi cho chiến dịch Hồ Chí Minh. Xuân Lộc nằm giữa đường 1 và đường sắt, xung quanh là thung lũng rừng núi. Lực lượng lúc này của địch chiếm giữ chủ yếu là Sư đoàn 18, bảo vệ cửa ngõ Sài Gòn. Hồ Trọng Thanh là khẩu đội trưởng (cối 82) Đại đội 14, Trung đoàn 266, Sư đoàn 341″. Đêm ngày 8/4, đơn vị tôi hành quân vào vị trí tập kết. 4h30 ngày 9/4, đơn vị đã tới địa bàn hoạt động của địch. Nhưng không may một mũi tiến công của ta bị lộ, địch phát hiện nã súng liên tục, từ xa từng đoàn xe tăng của địch tiến lên chĩa hỏa lực vào ta, thương vong rất nhiều.” Ông nghẹn ngào. Trong ký ức của ông những thước phim về những ngày cận kề với chiến thắng quyết định đưa đất nước tới hoàn toàn thống nhất, nhưng đồng đội ông vẫn đau đớn hy sinh khi chỉ mới vài ngày trước đó thôi họ đã nói với nhau những câu chuyện về ngày mai, câu chuyện sum vầy và câu chuyện của những dự định, ước mơ sẽ sớm được thực hiện lần lượt hiện về. Tất cả, tất cả đã dừng lại mãi mãi. Chỉ một số người như ông còn có thể tiếp tục hành quân trên một chặng đường mới, chặng đường của hòa bình, thống nhất, chặng đường được đắp nên từ xương máu của chính đồng đội, đồng bào mình. Trái tim ông đau lắm!

Sau nhiều ngày giằng co, giao tranh ác liệt, ta đã đánh bại và lấy lại thị xã Xuân Lộc.

Sau khi củng cố lại lực lượng, đến ngày 29/4, Hồ Trọng Thanh cùng các đồng đội đánh vào sân bay Biên Hòa và chốt giữ sân bay, rồi tiếp tục đánh vào Thủ Đức Sài Gòn, chốt giữ phủ Tổng công vụ, đây là nơi phục vụ cơ quan ngụy quyền Sài Gòn. Sau ngày đất nước giải phóng, cấp trên giao cho ông nhiệm vụ cứu tế, cứu đói, đưa dân đi lập nghiệp và xây dựng kinh tế mới.

Tháng 4/1976, Hồ Trọng Thanh ra Bắc, phục viên về địa phương. Tháng 1/1980, tốt nghiệp Trường Trung cấp nông nghiệp, ông về công tác tại Hợp tác xã Hưng Thịnh, Hưng Nguyên, Nghệ An và năm 2015, nghỉ hưu tại quê nhà. Ông tham gia vào Hội Cựu chiến binh của xã, có nhiều đóng góp cho phong trào của quê hương.

Ghi nhận những thành tích đã đạt được trong quá trình tham gia kháng chiến, ông được Đảng Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Hai, Huân chương Chiến sĩ Giải phóng, cùng nhiều bằng khen trong công tác quân quản ở Sài Gòn.

Những cánh thưcuốn sổ nhật ký lưu mãi khúc ca khải hoàn

Trò chuyện với chúng tôi, ông Hồ Trọng Thanh chia sẻ: “Tôi đã rất may mắn. Xông pha chiến đấu trên các chiến trường, hàng ngày, hàng giờ, cái chết luôn rình rập, chỉ cần sơ sẩy một chút là nguy hiểm đến tính mạng không chỉ của mình mà còn cả đồng đội. Suốt thời gian làm nhiệm vụ, có nhiều lần dấn thân vào “cửa tử” nhưng vẫn được nguyên vẹn trở về. Còn một may mắn nữa, người yêu (sau này là người vợ hiền) luôn một lòng thủy chung chờ đợi…”.

Cuốn nhật ký và những bức thư thời ông Thanh tham gia kháng chiến chống Mỹ

Những năm tháng ở chiến trường dù khó khăn, gian khổ nhưng ông vẫn tranh thủ thời gian lúc nghỉ ngơi bên cánh võng để viết thư về cho gia đình. Có thể nói trong chiến tranh, sợi dây kết nối duy nhất giữa ông và quê nhà là những lá thư. Từng câu, từng chữ đều nhuốm màu khói bụi, mộc mạc, giản dị và vô cùng chân thực. Tất cả đã trở thành lý tưởng sống của cả một thế hệ những người cầm súng như ông.

Những lá thư ông gửi về luôn chỉn chu, từ hình thức đến nội dung, tràn đầy nỗi nhớ, tình cảm yêu thương với cha mẹ, tình yêu thủy chung, sâu đậm với người thương: “Gia đình ta, cha mẹ và các em có khỏe không? Việc học của các em ra sao? Ông bà có gửi thư về luôn và có khỏe không? Anh đã gửi thư cho gia đình ta và thư riêng cho em Hương không biết đã nhận được chưa? Riêng anh sống xa gia đình, thiếu thốn tình cảm… song đồng đội, đồng chí là nguồn động viên anh trong cuộc sống, dù vất vả gian khổ nhưng anh vượt qua tất cả…”

Sự lạc quan, những hy vọng, niềm tin về cuộc chiến tranh chính nghĩa và cả trách nhiệm, sự hy sinh cao cả của người lính đều thấm đẫm trong từng nét bút rắn rỏi viết vội gửi gắm tình cảm cho hậu phương. Trong bức thư ngày 25/2/1974, ông viết: “Cuộc đời người chiến sỹ như anh trong lúc này không biết em có hiểu hết cho lòng anh không? Đất nước còn bóng giặc đường hành quân còn dài. Chiến trường đang vẫy gọi những người như anh. Mai đây không xa do yêu cầu cách mạng anh phải sống xa hậu phương, thư từ ít nhiều bị gián đoạn… Riêng anh vẫn không bao giờ phụ bạc lòng em…”

Bên cạnh đó, ông cũng động viên người yêu cùng mình thi đua nơi tiền tuyến: “Phượng đi làm nhiệm vụ, điều đó Thanh đâu dám ngăn cản, đó là ước mơ, là nguyện vọng của tuổi trẻ và cũng chính là lý tưởng của tuổi xuân. Phượng đi Thanh vẫn hoàn toàn nhất trí với Phượng, ở đâu cũng nhiệm vụ, ở đâu cũng công tác” (…) Thi đua với người yêu nơi tiền tuyến, tại hậu phương – chị Phượng – sau này là vợ của ông cũng xung phong tham gia vào lực lượng dân quân. Nhưng vì lúc đó chị đang phụ trách công tác tuyên truyền tiến bộ khoa học kỹ thuật về cho bà con xã nhà nên lãnh đạo xã đề nghị chị tập trung cho nhiệm vụ cũng rất quan trọng này.

Ông Hồ Trọng Thanh trò chuyện cùng con cháu về những kỷ niệm của ông thời chiến tranh

Tuy nhiên, không ít lần trước ngày ra trận ông viết thư về cho mẹ cũng có những dự cảm chẳng lành cho bản thân, nếu đó là sự thật ông động viên mẹ đừng buồn, vì sự hy sinh của ông cũng như biết bao đồng chí khác là vì sự nghiệp đấu tranh của dân tộc, vì hạnh phúc cho thế hệ mai sau: “Con biết trong cuộc đấu tranh giai cấp này quyết liệt với quân thù không tránh khỏi những tổn thất, hy sinh. Ra trận lần này con có thể ngã xuống mảnh đất này. Nhưng dòng máu của con sẽ không bao giờ vô vị… Mẹ ơi! Nếu như không may con phải… thì mẹ cùng đừng buồn nhiều mẹ nhé…” (…)

Những lời động viên dặn dò và những hứa hẹn đầy tự tin, như một lời khẳng định về chiến thắng đang đến rất gần, ông sẽ lại được sum họp bên gia đình. Bức thư ông viết ngày 7/4/1975, chỉ một ít thời gian nữa là thời khắc cả dân tộc Việt Nam được hát vang bài ca chiến thắng: “Trong trận đấu này anh không thể hy sinh được vì anh chưa cống hiến được gì cho Tổ quốc, quê hương. Anh phải sống phải chiến đấu đến cùng để non sông đất nước vĩnh viễn hết đau thương… Anh tin tưởng một ngày gần nhất khi giang sơn đất Việt – Tổ quốc thân yêu – chiến thắng vùi bọn giặc xuống bùn đen… Anh sẽ dắt tay em đi trên con đường trăng sáng:

Em hãy đợi… em hãy chờ
Ngày đất nước… rợp bóng cờ
Anh trở về… trên nẻo đường” (…)

Bàn tay ông lần dở cho chúng tôi xem những trang nhật ký đã cũ, nhiều trang bị ố vàng, nhăn nheo do tác động của thời tiết nóng ẩm nơi rừng núi, nơi ông thường công tác. Một số trang còn bị lem nhem do mồ hôi, nước mưa. Tôi cảm giác như đôi bàn tay ấy đang rung nhẹ. Hẳn là biết bao cảm xúc đang dâng đầy trong ông. Cuốn nhật ký ghi lại công việc ông làm quân quản sau ngày giải phóng miền Nam. Trên trang đầu nổi bật những dòng chữ vỡ òa niềm vui của ông và đồng đội khi được chứng kiến giờ phút chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, đất nước được nở hoa độc lập: “Hạnh phúc quá! Sung sướng quá! Tự hào quá… Từ nay quê hương đất nước được giải phóng. Lời hứa ngày chiến thắng được về gặp lại mẹ, ôm mẹ, hôn mẹ đang đến gần….” (…)

Những bức thư và cả cuốn nhật ký của Hồ Trọng Thanh trở thành minh chứng lịch sử vô cùng sinh động về lý tưởng sống cao đẹp, hy sinh và cống hiến cho độc lập, tự do của dân tộc của cả một thế hệ trưởng thành trong chiến tranh. Qua đó cũng thể hiện sâu sắc tình yêu gia đình, tình yêu lứa đôi thấm đẫm trong tình yêu đất nước, góp phần làm nên trang sử hào hùng không thể nào quên của dân tộc Việt Nam: trang sử Mùa xuân năm 1975.

Trà My