28 C
Vinh
Chủ Nhật, Tháng 5 17, 2026
Trang chủ Văn xuôi Những mùa nương đã xa

Những mùa nương đã xa

Miền Tây xứ Nghệ thật đẹp khi vào tiết cuối thu. Giữa thời khắc giao mùa núi rừng như thêu hoa dệt gấm. Mùa lũ đã đi qua, dòng sông thu mình rì rầm qua các gành đá, chảy quanh các khóm rù rì vẫn còn những ngấn bùn… Các dòng suối nhỏ chỉ còn róc rách liu riu. Bãi bờ phơi ra những ngấn bùn, những bãi bồi nâu thẫm phù sa. Ấy cũng là lúc sắc màu của núi rừng lên tiếng. Màu xanh đậm, màu vàng nghệ vàng mơ của lá già chưa kịp rụng. Màu tím, màu xanh lá mạ của những loài thay lá sớm. Màu bàng bạc của cây hoa ban và xạc xào trên những vạt lau dọc đường số 7, suốt từ Con Cuông, Tương Dương lên biên giới.

Dưới sắc nắng hanh vàng, mọi sắc màu trở nên mờ ảo lung linh trong sương sớm, mây chiều. Lúc này, trên rẫy đã chín và lảnh lói tiếng chim chèo bẻo, ríu ran tiếng của những đàn chim ri chao lượn. Núi xa núi gần, những mảng màu vàng chanh xen lẫn trong màu xanh của những sườn núi. Không gian núi rừng phảng phất mùi lúa mới, phảng phất mùi cá nướng, mùi các loại hoa rừng, và mùi của quả rừng chín nẫu… Màu vàng của những rẫy lúa ngang trời có sắc vàng mơ góp thêm sắc màu cho núi rừng thêm phần rực rỡ.

Những rẫy lúa, những bông lúa mẩy hạt trĩu nặng sương mai trên sườn núi cheo leo. Ðể có những mùa rẫy như thế người vùng cao đã đổ biết bao mồ hôi của mấy tháng trời. Phát, đốt, dọn, trỉa. Công đoạn nào cũng vất vả, cực nhọc. Phát phải phát kĩ, phát sạch. Phát vào mùa nắng. Phải phát sạch cỏ cây nhỏ bên dưới sát mặt đất, tiếp đến mới phát dọn dây leo, cây tầm trung bình. Sau đó mới phát tiếp cây tầng cao. Cây to khi đã được ngã xuống phải chặt ngắn cành ngọn cho chóng khô. Mùa phát rẫy như ngày hội. Người lớn kéo hết nhau vào rừng. Tiếng chí chát, tiếng gọi nhau vọng từ mái núi này sang mái núi khác. Rẫy phát xong phải chờ thật khô mới chọn ngày nắng to, chọn hướng gió châm lửa đốt. Những mái núi bốc cháy, nhiều mái núi bốc cháy. Cả vùng rừng bốc cháy, khói đen cuồn cuộn, những lưới lửa gặp gió thốc réo thét kinh hoàng. Rẫy đốt xong phải chờ thật nguội mới dọn dẹp. Gom các cành chưa cháy hết đốt tiếp. Các thân cây to được khiêng ra bìa rẫy bắc lên làm hàng rào ngăn trâu bò, ngăn thú rừng. Rẫy dọn xong phải chờ mưa xuống ẩm đất mới chọc lỗ tra hạt. Việc chọc lỗ tra hạt tập trung hết đàn bà con gái lên những mái núi trơ trọc, đen thui. Cứ từng lỗ một, chọc trỉa, kiên nhẫn. Thế rồi chờ lúa, chờ ngô mọc. Lúa ngô lên ngang bắp chân lại lên rẫy chặt chồi, dẫy cỏ… Thế rồi mong mưa, chờ lúa ngậm đòng, chờ lúa trổ bông, chờ lúa chín. Lại phải lo canh chim canh thú phá lúa. Gặp năm mưa thuận gió hòa sẽ được mùa rẫy. Một mùa rẫy nuôi sống cả năm. Ngày thu hoạch bản làng rộn rịch như có hội. Nhà nhà vào rẫy, người già, trẻ con kéo nhau vào rẫy… Trẻ con vào rừng làm bẫy thú, bẫy chuột. Ðàn ông dựng kho, đàn bà trèo nương cắt lúa. Gùi sau lưng, nhẫn nại từng bước trên sườn dốc. Lúa được cắt từng bông buộc từng nắm. Nặng gùi lại rải lúa phơi. Lúa khô khén mới cất vào kho được dựng ngay bìa rẫy để lấy về ăn dần. Cũng có năm nắng hạn, cây lúa chết đứng trên nương. Cả sườn núi khô xác, bao mồ hôi công sức theo gió bay đi. Ấy là những năm đàn ông phải vào rừng chặt gỗ bán kiếm tiền mua gạo, đàn bà phải vào rừng đào củ mài, kiếm măng, hái măng mang ra chợ.

Những mùa nương… Ảnh: Nhật Thanh

Tôi từng ngẩn ngơ trước sắc vàng của lúa chín, ngẩn ngơ với những rẫy lúa thơm. Những rẫy lúa cheo leo, vắt ngang lưng trời. Những rẫy lúa trên những vách núi bên đèo có cái tên là Dốc Chó, nơi giáp ranh giữa hai huyện cũ là Con Cuông và Tương Dương. Ði lên nữa, chỗ dốc Tam Ðình (Tương Dương), dọc hai bên đường cũng là những rẫy lúa. Lúa ngay bên đường, lúa leo ngược lưng chừng trời… Và lên nữa, xa xa, lẫn trong mây mù xa tít, những rẫy lúa vàng chen chúc giữa màu xanh khiến núi của rừng như tấm áo loang lổ mảnh vá.

Lần đó tôi cùng mấy nhà văn lên vùng cao, huyện Tương Dương cũ, gọi là đi thực tế sáng tác. Bí thư Huyện ủy là một người Thái, anh Lữ Kim Duyên tiếp chúng tôi trong Văn phòng Huyện ủy trên tầng hai của một ngôi nhà ép bên hữu ngạn sông Lam. Bên tấm ảnh rất đẹp chụp toàn cảnh Cửa Rào mênh mang sông nước, nơi hợp lưu của hai dòng Nậm Mộ và Nậm Nơn, anh hào hứng giới thiệu huyện đang được hưởng một dự án lớn. Dự án có tên “An toàn lương thực Xiêng My”. Tên dự án nghe hấp dẫn và gây tò mò. Hóa ra việc phá rừng làm rẫy, cái sự “lợi bất cập hại” này đã là nỗi trăn trở từ lâu của các anh, những người lãnh đạo của địa bàn vùng cao này. Việc phá mãi rừng sẽ để lại hậu quả khôn lường. Ðất rừng bị khai thác đến cạn kiệt. Có những khu rừng không thể biết đã bị phá đốt bao nhiêu lần. “Con đường” đang đi chẳng biết sẽ dẫn miền núi tới đâu khi núi rừng liên tục bị chặt phá. Cái bế tắc của miền núi là ở chỗ đó. Vì thế mà có được cái dự án này như là một cứu cánh, một cái phao cho người sắp đuối nước. Trong sự hào hứng ấy, anh rất muốn đưa chúng tôi tới nơi được trực tiếp thực hiện dự án.

Sáng hôm sau chúng tôi được anh Vi Hợi, Chánh văn phòng Huyện ủy dẫn đường vào Xiêng My, nơi thực hiện dự án. Vi Hợi còn rất trẻ, dáng nhỏ nhắn và nhanh nhẹn, có miệng cười rất tươi. Anh nguyên là giáo viên cấp 3 ở Tương Dương. Lúc đó, với chúng tôi Vi Hợi là một cán bộ tháo vát, nhanh nhẹn, hiểu biết sâu sắc công việc và chu đáo tận tình chứ chưa thể hình dung, chỉ mấy năm sau anh đã trở thành một nhà văn viết rất hay về miền núi.

Chiếc xe U-oát cũ kĩ đưa chúng tôi qua sông Nậm Nơn trên chiếc cầu treo do dân góp tiền bắc lên, tiến sâu vào vùng núi mạn đông bắc huyện. Dạo đó sông Nậm Nơn chưa bị chặn dòng làm thủy điện. Xe bám dọc tả ngạn, dòng chảy sâu hút, và bên kia, phía hữu ngạn kéo dài hàng cây số là những mái núi vừa bị đốt đen sì tro than chờ ngày tra hạt. Hết địa phận xã Hữu Dương bên sông, xe ngoặt phải và nhảy chồm chồm lắc lư trên những đoạn đường chằng chịt rễ cây, đất đá vương vãi, nham nhở những hố khai thác vàng ở các xã Yên Na, Yên Hòa… Ðang là mùa trỉa rẫy, dọc đường là những sườn núi mới đốt dốc ngược, đen nhẻm tro than. Những người đàn bà váy áo bệch bạc hông đeo giỏ hạt giống, tay cầm nọc dài bám dốc ngược lên kiên nhẫn chọc lỗ dưới cái nắng trưa hè. Dọc đường vào Xiêng My vẫn những ngọn núi bị cạo trọc trơ giữa những vùng rừng xơ xác. Ðể có được những hạt gạo người ta đã phá đi hàng ngàn hécta rừng, bỏ đi hàng vạn khối gỗ. Biết là vậy nhưng không thể khác. Trên xe, Vi Hợi nói lên băn khoăn của anh. Có một giải pháp huyện đang tích cực thực hiện. Ðó là vận động bà con trồng luồng, trồng mét trên những diện tích đất xấu do phát nương nhiều lần. Số luồng trồng được đã tới cả vạn gốc nhưng vẫn chưa thấm tháp gì so với diện tích bị đốt phá làm rẫy đã bạc màu. Lúc này, được tiếp nhận dự án, huyện đang rất hào hứng triển khai thực hiện. Chuyện trò sôi nổi khiến chúng tôi quên cả thời gian. Trời đã sang chiều. Nắng đã nhạt trên lá rừng, nhạt trên những mái nhà sàn thấp thoáng xa xa. Chúng tôi tiếp tục đi qua những bản Thái sát bên đường. Có đoạn xe chạy sát dưới những sàn nhà của những nếp nhà sàn vững chãi. Ngồi buông thõng chân trên chạn trước là những người đàn bà Thái thịt da căng đỏ với váy áo thổ cẩm nói lời chào hỏi vồn vã thân tình. Người vùng cao thật hồn nhiên và đầy lòng mến khách, thân thiện và khoan hòa. Nhịp sống nơi đây thật quá yên bình và hồn hậu, cho dù cuộc sống thế nào. Từng nhiều năm sống với người miền núi tôi đã hiểu ra điều đó.

Vậy là đã vào đến địa phận xã Yên Hòa. Tôi nhớ đây là quê của Lô Tiến, anh bạn người Thái cùng lớp chuyên tu học ở Vinh hơn hai mươi năm trước. Ðời sống lúc đó còn vô cùng khó khăn. Giáo viên xa nhà đi học còn khó khăn hơn vì ai cũng đã có gia đình, vợ con. Hai chúng tôi ở trong nửa gian nhà nứa của dãy nhà tranh lụp xụp trên vùng cát xã Nghi Ðức của huyện Nghi Lộc (nay là phường Vinh Phú). Ngày một buổi lên lớp một buổi tự học và tự nấu ăn. Lương thực khan hiếm, tiêu chuẩn hàng tháng của chúng tôi chỉ nhận toàn bo bo. Vì vậy, dù phải đi hơn hai trăm cây số từ Vinh lên, xe cộ khó khăn nhưng gặp ngày nghỉ là Tiến nhót về. Tiến vẫn rất chăm về. Từ Vinh lên, xuống xe ở Hòa Bình (cũ), Tiến còn phải đi bộ mấy chục cây số giữa rừng nữa mới vào tới bản. Ðoạn đường Tiến từng đi chính là đoạn chúng tôi vừa đi qua nhưng chắc hẳn ngày đó còn hoang vu rậm rịt hơn. Vậy mà Tiến vẫn không ngại. Lúc lên là thế, còn lúc xuống? Tiến bảo có chuyến đi bộ mười mấy cây số ra sông Nậm Nơn chặt nứa kết bè xuôi xuống Hòa Bình rồi mới có xe xuống Vinh. Gian nan là thế mà ba năm chẳng nhớ Tiến lên xuống mấy lần. Mỗi lần như thế Tiến xách xuống mươi lăm cân nếp rẫy. Chao ôi, mừng sao mà mừng. Những hạt nếp to lườu  lườu như hạt dưa gang, giã chưa kỹ, cho thứ xôi trông như rời mà dẻo quánh, thơm lừng. Tôi được hưởng cái thơm thảo của rừng qua Tiến và hình dung đến công sức, mồ hôi của con người làm ra nó. Tiến kể cho tôi nghe về việc phát rẫy, việc đốt, việc dọn… Tiến nói về mùa lúa chín, nói về việc canh rẫy đuổi chuột, đuổi chim rừng. Tiến nói về mùa gặt nhà nhà vào rẫy. Ðêm về, đứng ở bản nhìn lên thấy lửa từ các chòi canh trên lưng núi dày khít nhấp nháy như sao trời. Tiếng hú gọi nhau vọng qua các vách núi, vọng qua các nương lúa bạt ngàn, mênh mông chìm trong sương đêm, nghe như từ trời rơi xuống… Quả là một không gian đầy ấn tượng. Cái không gian Tiến dựng nên ám ảnh tôi mãi đến tận hôm nay.

Tôi cứ miên man thế, trời đã tối từ lúc nào. Những nếp nhà sàn dọc bên đường đã lên đèn. Và ánh đèn le lói từ những bản xa nhạt nhòa trong sương sớm. Chưa có điện lưới, vùng cao đang chìm trong màn đêm. Bản đầu tiên của Xiêng My, cái bản nằm trong vùng thực hiện dự án đón chúng tôi bằng những ánh đuốc và những nếp nhà sàn đang được dỡ xuống, cột kèo ngổn ngang trên những bãi cỏ cạnh bản. Mệt mỏi ngồi phệt lên những cột kèo, mãi lúc lâu sau chúng tôi mới được ăn tối. Vi Hợi nói: vùng sâu xa chợ búa, các anh thông cảm cho. Dân bản thịt một con lợn nít (lợn nhỏ). Xôi đựng trong những ép được đan bằng tre, thức ăn từ con lợn nít, thịt, lòng đều luộc bày trên những mẹt trải lá chuối. Không bát đũa, ăn bốc bằng tay. Bữa ăn thật sự rất ngon miệng. Có lẽ cũng vì chúng tôi quá đói nữa. Không gian núi rừng, bữa ăn dân dã đậm sắc vùng cao. Chúng tôi bắt đầu cảm nhận những nét văn hóa mới đầy thích thú và hào hứng. Chưa hết. Vừa ăn xong, cũng vừa lúc trong các khe núi rồng rắn đèn đuốc. Ðược báo có khách, các chị từ mấy bản xa kéo nhau ra đón. Vùng hẻo lánh mấy lúc có khách xa đâu. Quả là một dịp để dân bản giao lưu vui vẻ. Thế rồi… nổi điệu “lăm vông”. Trong các cuộc vui của dân bản không thể thiếu màn “lăm vông” và rượu cần. Bình rượu cần đặt trên nền đất một gian nhà bỏ trống. Trong ánh lửa bập bùng, mọi khuôn mặt trở nên hồng hào, ánh mắt trở nên long lanh. Chủ khách nam nữ nắm tay nhau xen kẽ vòng quanh dập dìu. Lần đầu tôi nhập vào vòng múa. Không thể không múa trước sự chào mời của một cô áo váy thổ cẩm chắp tay chờ mãi ngay trước mặt. Ðiệu múa thật lạ, nhập cuộc một lúc khiến tôi như say. Tôi bị cuốn đi theo mỗi vòng xoay mê mải. Tôi không nhớ đêm đó mình ngủ thế nào. Trên sàn trống trải của một ngôi nhà hay vạ vật góc nào đó.

Xiêng My với những bản Thái quây quần trong một thung lũng khá rộng. Bao bọc quanh chân những dãy núi cũng là những bản nhà sàn. Sáng ra chúng tôi gặp những nếp nhà đã dỡ chuẩn bị di dời. Những nền đất vương vãi đồ rách, những gùi rách, rổ rá rách, những hố cột. Việc di dời, trả lại mặt bằng cho dự án đang rất khẩn trương. Vi Hợi cho biết, các bản được dời đi sẽ định cư sát chân núi bao quanh. Mặt bằng khi đã được giải phóng có diện tích 100 hécta này sẽ được cải tạo thành cánh đồng lúa nước một năm hai vụ. Ðể cấp nước cho cánh đồng đã có một đập nước gần đó. Tính toán ra, sản lượng thu được từ cánh đồng này, cùng sản lượng từ những khu ruộng ngoài Tam Ðình, Tam Thái và từ một số diện tích ruộng bậc thang khác sẽ đảm bảo phần quan trọng về lương thực cho Tương Dương. Hạn chế dần nạn phá rừng đốt rẫy của bà con.

Giờ đây, khi tôi viết những dòng này thì núi rừng miền Tây đã không còn loang lổ như tấm áo rách nữa. Huyện Tương Dương cũng không còn nữa. Và xã Xiêng My cũng đã nhập vào xã Nga My… Không còn nhận ra dấu tích của những vùng rẫy cũ. Và hậu quả do cơn lũ kinh hoàng của năm 2025 gây ra đã phần nào được khắc phục. Những vùng đất bị lũ chia cắt đã được nối thông. Những đoạn đường bị đứt gãy đã được kè đá và hàn vá. Ðường số 7 đã lại thông suốt. Và những bản có nhà cửa bị lũ cuốn cũng đã được dựng lên. Nhờ vào sự giúp đỡ, những tấm lòng hảo tâm xa gần, nhờ vào sự quan tâm của các cấp chính quyền, cuộc sống đã trở lại yên bình nơi vùng cao. Xã Tương Dương, nơi các bản làng bị dòng lũ cuốn qua đã lại chan hòa ánh điện. Và cái bản Yên Hòa, Mỹ Lý bị lũ cuốn trôi gần như hoàn toàn ấy, đêm qua tôi đã xem video phát trực tiếp, cả bản đang rộn ràng đón xuân trong rực rỡ váy áo thổ cẩm. Thế đấy, miền núi có sức sống thật mạnh mẽ trước thiên nhiên. Quả là “còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”. Khá lâu rồi, miền núi không còn đốt nương làm rẫy nữa. Những mùa đốt rừng làm rẫy đầy ám ảnh đã lùi xa. Ðã nhiều năm nay đời sống vùng cao đã ổn định nhờ “vựa lúa nhỏ” Xiêng My, nhờ lượng lương thực dồi dào được lưu thông toàn quốc. Vùng cao đang phát triển, phát triển bền vững nhờ vào màu xanh của rừng. Nhờ vào việc tự túc một phần lương thực từ dự án ấy. Mới đây, khi nghe tôi hỏi về cánh đồng ở Xiêng My, nhà văn Vi Hợi nhắn xuống trả lời: “Cánh đồng Xiêng My tốt lắm. Ngoài hai vụ lúa mỗi năm bà con còn làm thêm một vụ màu: ngô, khoai, đậu, đỗ… Có dịp mời anh lên thăm”.

Chao ôi, nhớ lắm. Nhớ những mùa nương đã xa, đã lùi rất xa ấy. Chỉ nhớ thôi, nhớ bởi nó khiến ta nhớ lại một thời khốn khó gian nan. Nhớ rồi tôi lại hình dung đồng lúa nước Xiêng My. Cây lúa nước cho dân huyện Tương Dương cũ no ấm, cho vùng cao xanh núi xanh rừng và thắm tươi màu thổ cẩm.

Nguyễn Ngọc Lợi