1. Tôi vừa về buổi trưa, xế chiều đã thấy thằng Mạn, mà người làng vẫn gọi là Mạn lợn đến cung kính:
– Kính anh, trưa nay nghe tin anh về, em không kịp đến chào, thật thất lễ, thất lễ.
Tôi phì cười với cung cách thằng Mạn, đứng dậy đỡ, mời nó uống nước.
Thằng Mạn cao to, tóc búi tó, râu ba chòm dài ngang ngực, áo nâu ta, đi guốc mộc. Nó bảo uống trà nhạt lắm, xin anh một chén rượu, ngửi ngửi rồi ngửa cổ khà một tiếng, chép chép miệng:
– Kính anh, theo thông lệ, cứ vào chiều cuối năm, bọn em tổ chức giao hữu bóng chuyền. Trước là để tăng cường đoàn kết, sau là vui với nhau một bữa. Chiều nay, nếu được anh dự khán thì vinh hạnh cho tụi em lắm lắm!
– Chú cứ quan trọng hóa vấn đề! Thể nào chiều nay anh cũng đến – Tôi vỗ vai nó.
Thằng Mạn cúi đầu “dạ” một tiếng thật to rồi lộc cộc bước ra cổng. Tôi nhìn theo, thấy hình dáng ông Lình, cha nó, mấy mươi năm trước.
Sân bóng chuyền là một bãi đất phía bên kia mương nước. Trước đây là một cái gò, mọc đầy dứa dại, tụi tôi vẫn thường thả trâu, chơi du kích. Nay làng thuê máy ủi san bằng làm sân vận động. Hình như được thông báo từ trước nên người xem khá đông. Anh Tảnh, thông báo viên của làng từ hồi còn chiếu phim bãi, giờ đã đầu hai thứ tóc cầm còi, trịnh trọng:
– Thưa bà con, chiều nay Hai tám Tết, làng ta diễn ra trận giao hữu bóng chuyền giữa hai đội Thẻo làng và Liên quân. Đội trưởng Thẻo làng là anh Mạn, Liên quân là thầy Quản. Xin mời đội trưởng hai đội lên bốc thăm. Xin trân trọng giới thiệu, đến xem và cổ vũ cho trận đấu chiều nay có nhà báo Xuân Lương, con bác sĩ Xuân Thiện, mới từ trong Nam về ăn Tết. Xin cho một tràng pháo tay!
Tôi ngượng ngùng với lời giới thiệu của anh Tảnh. Đã đi khá nhiều nơi, tôi chưa thấy thành phần tham gia trận bóng chuyền nào lạ lùng như làng tôi. Đội Thẻo làng gồm những người làm nghề giết lợn như thằng Mạn, thằng Thảnh, mở quán cầy tơ 7 món như thằng Hỡi, buôn gà vịt như anh Hãn, thằng Sung… Liên quân là còn lại những người trong làng, chủ yếu là thanh niên làm ruộng, thợ hồ, thầy giáo.
Xin được được nói thêm, làng tôi là một làng cổ, theo nhà chép sử của làng là ông Phạm Địch, bút danh Ô Giang Địch, thì làng đã có trên 700 tuổi. Làng được khai phá bởi một vị khoa bảng. Làng có thế của một con rùa vàng, biệt lập với các làng khác, xa xa sau lưng là dãy núi Yên Ngựa, bên phải, bên trái là con đường lớn và con sông đào không khi nào cạn nước, trước mặt là cánh đồng rộng mênh mông. Có thế đất tốt, làng tôi được tiếng là đỗ đạt, có nhiều người làm quan. Lại có ruộng khá màu mỡ, nước nôi đầy đủ, dân làng tôi không giàu nhưng ít phải đứt bữa, cũng vì thế người làng tôi thích yên phận, hơi lười, ham chơi. Hồi chiến tranh ác liệt, tàu xe khó khăn là vậy mà có mấy thiếu niên làng dám đi bộ hơn chục cây số xuống ga Sy, nhảy tàu ra Hà Nội để cho biết Thủ đô, về kể chuyện phố phường, nam, phụ, lão, ấu, ai cũng há mồm nghe. Trước nữa, vào đầu thế kỷ trước, có ông Kiểm Báu làm nghề thuốc Bắc, nghe nói đã từng ngao du sơn thủy cùng ông Tản Đà, đến ngoài ba mươi mới về quê lấy vợ. Còn ông Ô Giang Địch, nguyên Hiệu trưởng một trường tiểu học, vì ham làm thơ, ít chịu làm công tác quản lý nên bị cho về hưu non. Ông có mấy câu thơ tự vịnh như thế này: Nghèo rớt mồng tơi miệng vẫn cười/ Biếng làm, nhác học, thích vui chơi/ Khi say sông núi vơ vào túi/ Khi tỉnh làm ăn với mọi người/ Hoài bão bao năm đành nuốt hận/ Trầm tư muôn thuở vẫn không nguôi. Tôi bảo thơ ông là giả, là anh hùng rơm. Ông mắng tôi hỗn, mách cha tôi. Tôi bị một trận đòn lằn đít.
Thẻo làng là mảnh đất phía đông cuối làng. Xưa kia, đây là mảnh đất hoang, toàn mồ mả, chỉ lác đác vài ngôi nhà tranh ọp ẹp của dân ngụ cư và người tứ cố vô thân. Cách đây hơn ba chục năm, huyện chủ trương mở rộng huyện lỵ, cắt một phần xã tôi, trong đó có chợ về thị trấn. Ông Danh, Chủ tịch xã, cũng là người làng, tiếc cái chợ là nguồn thu chủ yếu của địa phương, đã đi một nước cờ cao tay, là dời chợ từ thị trấn về cuối làng tôi. Từ ngày có chợ, thẻo đất cuối làng trở nên có giá. Con cháu ngụ cư nhiều người đổi đời từ làm thuê sang làm ông chủ.
Trận đấu bóng chuyền cuối năm sôi động hơn tôi tưởng nhiều.
– Văn Mạn đập bóng hay. Điểm cho Thẻo làng 10, Liên quân 7.
Giọng anh Tảnh lanh lảnh. Tôi không ngờ, vào trận, thằng Mạn lại chơi hay đến vậy. Nó là linh hồn của đội. Bộ ngực căng vồng những múi. Hai cánh tay lực lưỡng giáng những cú đập sấm sét.
Xem thằng Mạn đập bóng, nhớ lại ngày xưa ông Lình cũng là người rất khỏe, từng lên sới vật, làm lấm lưng đô vật nổi tiếng bốn xã trong vùng không có đối thủ.
– Văn Mạn chắn bóng tốt. Thẻo làng 25, Liên quân 21. Kết thúc trận đấu. Thông báo, khác với mọi năm Thẻo làng 3, Liên quân 1, gặp mặt năm nay sẽ do Thẻo làng chi hết. Xin trân trọng kính mời nhà báo Xuân Lương cùng vui với anh em.
Địa điểm liên hoan là quán thịt chó thằng Hỡi. Quán nằm ở vị trí đắc địa gần cổng chợ. Mỗi phiên chợ, nó giết đến dăm con chó. Rượu vào lời ra, chỉ một lát sau đã chẳng còn ai nghe ai nói. Mạnh mồm là đám buôn bán, hàng quán. Đám làm ruộng có vẻ khép nép hơn. Thằng Mạn, mặt đỏ tưng bừng, hô thật to: “Năm nay làm lúa được lúa, giết lợn được lợn, buôn gà trúng gà. Mừng làng ta một năm thành công! Chúc năm mới thêm phần thắng lợi! Nâng ly, một trăm phần trăm!” Tiếng “dô dô dô…” buốt cả óc. Hứng chí, nó cầm chai dốc ngược, tuyên bố: “Vài ba triệu tiền bọ, cuộc vui hôm nay, tui chi!”
Nhấp chén rượu thằng Mạn mời, lại nhớ ông Lình xưa cũng ngang tàng lắm. Nhưng ông nghèo. Cả đời nghèo đến không lấy được vợ.

2. Chuyện ông Lình trôi dạt đến làng tôi rành rành được ghi trong cuốn sử làng của ông Ô Giang Địch. Đó là vào năm 1954, miền Bắc vừa được giải phóng. Tháng Mười năm đó lụt to. Nước từ thượng nguồn cuồn cuộn đổ về. Cả làng chỉ còn duy nhất mả Ông Ăn Mày nằm cuối thẻo là chưa bị ngập. Tối đó, có tiếng chó tru. Theo truyền thuyết làng tôi, hễ có tiếng chó tru là làng lại xảy ra chuyện. Có người quả quyết đã tận mắt thấy con chó. Đó là một con chó cao to, lông rậm, trắng như tuyết, hai mắt đỏ như hai hòn lửa, sáng rực. Nó thường ngồi trên mả Ông Ăn Mày, ngửa mặt lên nhìn trời, nhất là vào những đêm trăng sáng. Tối đó, nghe tiếng chó tru, sáng dậy, thấy mênh mông trời nước, ông Kiểm Báu sai cháu đóng bè chuối ngao du một vòng quanh làng. Khi đi qua mả Ông Ăn Mày, ông thấy một người nằm vắt qua mộ. Tò mò, ông sai cháu chèo bè đến thì thấy đó là một thanh niên chừng 30 tuổi, tóc búi tó, trên ngực, trên tay xăm hình hổ báo, đại bàng cùng một chữ HẬN và dấu chấm than to tướng. Anh ta đang thoi thóp. Ông Kiểm Báu vội vàng cùng cháu khiêng anh ta xuống bè, chở về nhà. Ba ngày thuốc thang, anh thanh niên đã qua được cơn nguy kịch. Khi tỉnh dậy, anh ta vội quỳ mọp trước mặt ông Kiểm Báu mà lạy, xin ghi lòng tạc dạ ơn cứu mạng. Hỏi lý lịch, quê hương bản quán, anh ta chỉ nói vắn tắt: Tên Lình, người mạn ngược, cha mẹ chết sớm, đi ở cho người giàu trong làng, bị đánh đập, đối xử tệ, bèn đánh con nhà chủ gãy giò, bỏ theo lục lâm thảo khấu. Toán cướp bị dẹp, Lình phải ngồi tù hai năm. Ra tù, tập hợp bạn bè cũ buôn bè gỗ trên sông. Chuyến vừa rồi, lợi dụng nước lũ, dốc hết tiền làm một chuyến thật to rồi nghỉ. Không ngờ lũ to quá, hơn chục bè gỗ quý trôi hết.
Ông Kiểm Báu hỏi: “Giờ anh tính sao?” Lình rân rấn nước mắt không trả lời. Ông Kiểm Báu bèn bảo: “Cái miếng đất bên mả Ông Ăn Mày là của nhà ta. Nếu anh không chê, ta còn ít tre, cho anh dựng cái nhà nhỏ mà ở”. Lình dập đầu mấy cái tạ ơn ông Kiểm Báu.
Hóa ra Lình là người hiền lành. Gặp người làng từ xa đã cất tiếng chào. Bất kể ai bảo gì cũng vâng vâng dạ dạ. Ai thuê gì cũng làm, cho bao nhiêu nhận bấy nhiêu, không đòi hỏi. Có vài người mai mối đám này đám nọ, nhưng không hiểu sao đã đến ở chục năm ở làng tôi, Lình vẫn không lấy vợ. Hình như người ta chê anh tứ cố vô thân.
Gần cuối làng, giáp với thẻo đất có nhà cô Ân. Cô Ân là con bà Cam, có chồng ở làng nhưng đã chết từ lâu, chưa có con và vẫn ở vậy từ đó đến nay. Người làng đồn giữa Lình và Ân có tình cảm. Ai hỏi, Lình chỉ cười, không nói gì.
Lình giỏi võ, người ta đồn vậy, song chưa thấy anh ta đánh nhau với ai bao giờ, nhưng chuyện Lình giỏi vật là có thật. Tổng Quan Hoa quê tôi ngày xưa nức tiếng về hội vật. Người ăn giải mấy năm liền không ai lật được là Sơn Gồng ở Đông Hợp. Tay này có mấy năm làm ăn bên Miên, học được miếng gồng rất lợi hại, chưa ai hóa giải được. Lình về ở làng tôi được một năm, nhân hội vật đầu năm, ông Kiểm Báu bảo: “Ta thấy cái tay Sơn dưới Đông Hợp kiêu căng quá lắm, xem chừng anh có trị được nó không?” Lình dạ dạ.
Vào sới, quen thói, Sơn Gồng nhìn Lình bằng nửa con mắt. Sau khi chộp được cổ tay Lình, anh ta quay người định quật văng đối thủ. Nhưng cũng rất nhanh, Lình né người, luôn tiện ghé vai vác ngược Sơn Gồng đi một vòng quanh sới, tiếng reo hò nổi lên như sấm. Sau hội vật năm ấy, tiếng tăm Lình nổi như cồn. Nhưng cũng chỉ một lần ấy, năm sau, ban tổ chức hội vật đến tận nhà nài nỉ, dứt khoát Lình không tham gia.
Khi tôi lên 5 tuổi, nghĩa là sau trận lụt kinh hoàng năm 1954 đến hơn chục năm, làng tôi lại lụt lớn. Tôi nhớ, chiều đó, nước dâng cao đến quá cửa sổ, chị tôi phải cõng tôi lên gác. Buổi tối trên gác, vừa lạnh vừa sợ, nằm mãi mới ngủ được. Trong mơ hồ giấc ngủ, tôi nghe có tiếng chó tru. Tiếng chó thảm thiết, kéo dài từng chặp, từng chặp, như muốn kéo cả bầu trời kịt nước xuống.
Vừa sáng dậy, tôi đã thấy râm ran khắp làng: “Ông Lình chết rồi, chết đêm qua, chết trên cồn mả”. Tôi theo chị chống bè chuối đến xem. Nhà ông Lình nước dâng đến mái. Ông Lình nằm vắt ngang mộ Ông Ăn Mày, mọi người bảo y như hồi ông bị nước đánh dạt vào cách đây hơn 10 năm.
Có người làng rành chuyện bảo, ông Lình chết vì yêu kiệt sức trong khi đang bị cảm lạnh. Tối đó, nhân trời mưa gió, cô Ân chống bè đến với ông Lình. Họ đã thương nhau từ lâu mà không dám đến với nhau. Và họ đã yêu nhau như một lẽ tự nhiên của trời đất. Tôi không biết thực hư lời đồn, chỉ thấy sau đó cô Ân mang bầu và đẻ ra thằng Mạn.
3. Người ta khinh bà Ân không chồng mà chửa. Người ta khinh thằng Mạn là con không cha. Bà Ân chẳng thanh minh mà cũng không cải chính. Chỉ khi em bà Ân lấy vợ sinh con, nhà chật người đông thì bà mới đến sửa sang lại nhà ông Lình và về đó ở. Người ta cũng mặc nhiên thừa nhận thằng Mạn là con ông Lình.
Thằng Mạn đen trùi trũi. Mẹ nó còn bận đi cấy, cắt rạ, gánh phân thuê… nó vạ vật đầu làng cuối xóm, nhưng tịnh không thấy đau ốm bao giờ. Đến trưa, nhiều bữa chưa thấy mẹ nó về, mẹ tôi gọi nó vào ăn cơm. Nó quý mẹ tôi, quý tôi; tôi bày cho nó học, nó khá sáng dạ.
Ông Tựu là chú họ tôi, không hiểu sao rất khắt khe với nó. Nghe nói, hồi trước, ông Tựu đôi lần muốn tình ý với cô Ân nhưng bị từ chối. Một lần, hội làng, sẵn vừa làm vài ly ở quán bà Phiêu, ông Tựu buông lời chòng ghẹo rồi đánh bạo thộp ngực cô Ân, bị cô giáng một cái tát tóe đom đóm, từ đó đâm ra thù cô Ân, ghét lây sang cả thằng Mạn. Thằng Mạn đôi lần đói quá, vào vườn nhà này nhà nọ hái cam vặt ổi, người ta bỏ qua, song ông Tựu thì không. Hồi ông Tựu được lên làm đội trưởng đội sản xuất, mấy lần ông vẫn đe cô Ân không biết dạy con, có ngày ông cho đi tù. Ông Tựu có vườn cam trái rất sai, Tết nào bà Tựu cũng gánh ra chợ bán. Hôm ấy, tôi đi học về thấy lao xao từ đầu làng. Trước nhà ông Tựu người tụ tập rất đông. Tôi chen vào, thấy thằng Mạn bị lột trần, trói dính vào gốc cam, trên người lằn roi chi chít, dưới chân nó mấy trái cam lăn lóc. Ông Tựu hùng hổ: “Lần này bắt quả tang tại trận. Con nhà vô giáo dục, dứt khoát phải đi trại cải tạo”. Mấy người hỏi: “Cô Ân đâu? Cô Ân đâu?” “Cô Ân đi mua sắn trên mạn ngược chưa về”. Thằng Mạn cúi gằm, trên khuôn mặt bầu bầu đen nhẻm lăn dài hai hàng nước mắt. Chiều đó người ta dẫn thằng Mạn lên xã, lên huyện.
Ba năm đi trại giáo dưỡng, nghe đâu ở một tỉnh trung du phía Bắc trở về, thằng Mạn đằm tính hẳn. Năm đó, tôi học lớp cuối phổ thông cấp 3, chuẩn bị thi đại học, làng tôi lại xảy ra việc lớn. Số là những năm đó, quê tôi dậy lên phong trào di dân lên miền núi. Ông Tác, họ Đinh, Bí thư xã, vốn lâu nay ghét họ Phạm tôi vì cùng là hai họ lớn nhất vùng nhưng họ tôi thành đạt hơn nên nhân tiện muốn nhổ phăng cái làng hầu hết là họ Phạm này đi cho khuất mắt. Ông chỉ đạo xã họp dân làng tôi quán triệt di dân lên Đồng Trành, một nơi heo hút toàn đồi cằn, chỉ duy nhất cây rành rành làm chổi là sinh sôi phát triển mạnh. Tôi nhớ hồi đó họp hành liên miên. Làng tôi, ngôi làng cổ với nhiều di tích lịch sử, văn hóa, lại đang có dự án xây dựng khu lưu niệm của một bậc tiền bối cách mạng, nên với nòng cốt là các trí thức về hưu đã đưa ra nhiều lập luận sắc bén là không thể di dời. Nói phải củ cải cũng phải nghe, kế hoạch di dời làng tôi không thành, chuyện tưởng chẳng liên quan đến thằng Mạn, vậy mà nó lại tiếp tục gặp nạn. Số là sau khi ông Ô Giang Địch chết, thằng Thục, con ông, tiếp tục sự nghiệp ông, làm thơ, chép sử làng. Ngay sau hôm họp làng về việc di dân đi Đồng Trành, nó làm bài vè như thế này: Làng Đông Lư trù phú/ Từ đầu cổng cu Thâm/ Đến cuối cổng chắt Nhâm/ Cây cối đều tươi tốt/ Ta không nên dại dột/ Nghe rủ lên Đồng Trành/ Toàn là gộc rành rành/ Biết lấy chi mà sống/ Làng ta kiên quyết chống/ Không rời làng một phân/ Để cho kế hoạch chuyển dân/ Của Đinh Đình Tác không mần được chi. Thằng Thục đọc cho lũ trẻ con, chẳng bao lâu cả làng đã thuộc bài vè, râm ran suốt ngày, đầu làng cuối ngõ. Sáng ấy đi học qua nhà ông Tác, thằng Mạn nổi hứng đọc ông ổng bài vè. Không hiểu ông Tác có nghe không hay người ta mách lại, chỉ biết mấy ngày sau, Hiệu trưởng gọi thằng Mạn lên tra hỏi, nó bị đuổi học.
Thằng Mạn bị đuổi học, tôi cũng buồn vì nó học được. Từ hôm ấy, thằng Mạn ngày hai buổi ngồi lưng trâu, mang theo cuốn sách mượn từ cái gác sách đến vài trăm cuốn của nhà tôi. Năm ấy, tôi thi đậu đại học. Thằng Mạn bảo: “Anh đi đại học, em mừng nhưng mà cũng buồn, không có ai chơi với em”. Nó rủ: “Em tăm được đám ruộng, nhiều cá lắm, trưa nay anh em mình ra tát nhé!” Tôi và thằng Mạn hì hục cả buổi trưa, tát được một rổ bự những rô với giếc. Thằng Mạn chia cho tôi phần hơn, nó bảo có hai mẹ con, ăn mấy! Sáng hôm sau, trước khi anh trai tôi chở tôi xuống ga Sy lên tàu ra Hà Nội, thằng Mạn ghé nhà giúi vào tay tôi chiếc bút máy Trường Sơn mới cứng. Tôi hỏi: “Em lấy tiền đâu mua?” Nó không nói gì, chỉ bảo anh gắng học thành tài cho em thơm lây cái tiếng. Tôi biết, đám cá hôm qua, nó không đem về mà đã đem bán lấy tiền mua bút tặng tôi.
4. Chợ phiên đông nghịt người. Dưới bể lên, trên ngàn xuống, ngoài Bắc vào, trong Nam ra, thượng vàng hạ cám, không thiếu thứ gì. Sáng ấy, còn chếnh choáng với bữa liên hoan cuối năm cùng thằng Mạn với đám Thẻo làng, Liên quân, tôi rảo bộ đi chợ phiên. Chợ cuối năm càng đông tợn. Qua quán thịt chó thằng Hỡi thấy nó cười toe toét. Thằng này rất lạ, tính tình xởi lởi, ai vay mượn gì cũng “ô kê”, có điều hay ghen, đừng dại mà bắt chuyện với vợ nó. Tôi đã từng bị nó không nhìn mặt cả một kỳ nghỉ phép chỉ vì vô tình hỏi thăm vợ nó về cô em gái một thời là hoa khôi của xã.
Mặt trời lên độ quá con sào, lúc này trời đã bớt rét. Mấy bà làng tôi, áo bông tùm hum, thấy tôi, dừng lại, ngó vào mặt thật lâu rồi mới hỏi: “Ô, thằng Lương, con bác sĩ Thiện, về hồi nào cháu? Béo trắng, đi xa có khác. Tết nhớ qua nhà mợ chơi nhé!”
Tôi chen vào biển người, gật đầu người này, trả lời người kia, thấy mình lọt vào khu vực hàng thịt lúc nào không biết. Thằng Mạn làm chủ một sạp thịt lợn to nhất chợ. Nó đứng chỉ huy, cúi đầu cảm ơn người này, dạ dạ người kia, không phải động chân động tay. Việc bán thịt đã có vợ nó cùng mấy người làm. Người ta đồn nhau, thịt lợn nhà thằng Mạn không cân điêu, thịt luôn tươi ngon nên rất đắt khách.
Gần trưa, chợ đã vãn. Chợt phía đông chợ có tiếng la thất thanh: “Cướp, cướp, bà con ơi, cướp cướp!” Cả chợ táo tác. Một chiếc xe mô tô khủng rồ ga lao bừa qua các lối đi, hàng họ. Trên xe, hai thằng to cao, đầu trọc lóc, mã tấu huơ huơ loang loáng. Xe vọt qua hàng thịt. Đúng lúc, như một tia chớp, thằng Mạn bay lên, chân kẹp cổ thằng cầm lái quật xuống. Chiếc xe ngã rầm, cả thằng Mạn và thằng cầm lái cuộn vào nhau mấy vòng. Trong khi thằng Mạn đang bẻ tay thằng cầm lái thì thằng cầm mã tấu nhào tới. Thằng Mạn chỉ kịp né người, đá mạnh vào chân trụ thằng kia, song vai nó đã hứng trọn một nhát dao, máu phọt lên lênh láng. Vừa lúc mấy người trong đội bảo vệ ùa tới, trói gô hai thằng cướp chợ.
Thằng Mạn nằm trên nền xi măng vương vãi lá chuối khô và bã mía, cái đầu búi tó bung ra, tóc đã bắt đầu sợi đen sợi bạc song dài và mượt như tóc đàn bà con gái. Bỗng mọi người dạt ra, bà Ân hớt hải chạy đến. Theo sau bà là một đàn chó. Rất nhiều chó. Mấy chục con, đủ sắc lông, trẻ, già, lớn, bé. Chúng quây một vòng xung quanh thằng Mạn. Nổi bật trong đó là một con chó cao to, lông rậm, trắng như tuyết, hai mắt đỏ như hai hòn lửa, sáng rực. Nó ngửa mặt lên trời tru một hồi rồi tiến lại liếm từng giọt từng giọt máu trên mặt, trên tay thằng Mạn. Thằng Mạn hé mắt. Con chó dụi đầu vào ngực nó. Cả đàn chó theo con đầu đàn cũng tiến lại nằm bên thằng Mạn.
Tôi vẫn nghe nói ngày xưa ông Lình nuôi rất nhiều chó hoang. Những con chó không biết từ đâu, rủ nhau về ngụ cư ở Thẻo làng. Hàng ngày, ông vẫn cho chúng ăn, mùa mưa cho chúng vào nhà, trời rét đốt lửa cho chúng sưởi.
Ông Lình chết, bà Ân tiếp tục nuôi lũ chó.
Đến đời thằng Mạn cũng thế.
Phan Xuân Luật















