Thời gian trong “Thăm thẳm bóng người” của Hồ Mậu Thanh

Thời gian là một đường thẳng lạnh lùng nghiệt ngã hay một dòng chảy vô tận bất biến? Là quy luật hủy hoại hay một vùng ký ức có thể lấp đầy? Là thứ đáng sợ hay đáng quý? Có thể thấy những câu hỏi hỗn độn không đầu không cuối, không có và không thể có câu trả lời rốt ráo đến tận cùng đó trong tập thơ “Thăm thẳm bóng người” của nhà thơ Hồ Mậu Thanh.

Nhà thơ Hồ Mậu Thanh

Ở tập thơ này, thời gian vượt ra khỏi sự hiện diện như một khái niệm trừu tượng, để trở thành một nhân vật ngầm ẩn xuyên suốt hành trình thơ Hồ Mậu Thanh. Trong nhiều tác phẩm, người ta thấy rõ sự ám ảnh về thời gian, cũng chính là ám ảnh về kiếp người, về sự vô thường của tất thảy. Ông viết về lẽ vô thường đó với ít nhiều ngậm ngùi: “Vô thường đâu biết mọi điều” (Viết cho mình), “Giữa cõi vô thường chạm là lẫy nỏ” (Chạm cõi vô thường), “Trong tay ta chữ vô ngã vô thường” (Luận về cõi tạm).

Ðã có lần trải qua ranh giới mong manh của sống chết, Hồ Mậu Thanh hiểu “đời là cõi tạm” “chỉ ghé một lần”. Vậy nên với ông, thời gian trở nên vô cùng chóng vánh. Dẫu là một ngày (“Ngắn lắm thay chớp mắt đã trăng tàn”, Luận về cõi tạm) hay một đời (“Tử sinh chớp mắt thiên hà”, Viết cho mình) thì cũng sẽ qua nhanh như một cái “chớp mắt” mà thôi. Chính bởi vậy mà sự ngắn ngủi của nó trở thành nỗi ám ảnh trong thơ. Nó giống như một chiếc bóng vô hình len lỏi qua từng câu chữ, từng hồi ức, từng nhịp suy tư về kiếp người. Ông nhìn thời gian bằng con mắt của một người từng đi qua nhiều đổi thay, để rồi nhận ra mọi thứ trên đời đều tạm bợ và mong manh như hơi thở.

Bìa tập thơ “Thăm thẳm bóng người” của nhà thơ Hồ Mậu Thanh.

Ngay từ những câu thơ trong Vãn cảnh đền (“Xa rồi công múa, phượng nghiêng cánh chào/ Xa rồi vàng dát ngôi cao”) ta đã thấy dấu vết của một cái nhìn hoài cổ. Thời gian đã cuốn trôi mọi phù hoa quyền quý, chỉ còn lại chút dư vang của ký ức. Ở đây, thời gian không chỉ làm mất đi vật chất mà còn khiến cả danh vọng lẫn vinh quang trở thành tro bụi. Trong Màu thời gian, Hồ Mậu Thanh đi xa hơn khi triết lý rằng “Thời gian chẳng thước nào đo/ Xê dịch ngắn dài do cảm giác”. Ông không xem thời gian như một đại lượng tuyệt đối, mà là một trải nghiệm mang tính nội tâm, nơi cảm xúc con người định nghĩa độ dài của khoảnh khắc. Chính vì thế “lớn thời gian, ắt nhỏ lại kiếp người”. Câu thơ cho thấy nhận thức sâu sắc về sự bất tương xứng giữa cái vô hạn của thời gian và cái hữu hạn của đời người.

Nhạy cảm trước bước đi của thời gian, nhà thơ thường xuyên nhắc nhở về sự mong manh của vạn vật. Trong tập thơ xuất hiện nhiều sự tiếc nuối mơ hồ của tác giả trước những đổi thay do thời gian: giữa “làng xưa” và “làng giờ” trong Thao thức làng, giữa “ngày xưa ví giặm ru tôi” và “giờ tôi ru cháu à ơi sớm chiều” trong Ví giặm nuôi người, giữa “mới ngày nào” cường tráng nồng nàn khao khát và “nay hoa niên run rẩy cả hình hài” trong Viết ở ban công, giữa “màu hoa ngày cũ” và màu hoa nay “héo úa” trong Dòng sông kỉ niệm. Rồi xuất hiện nhiều từ ngữ ám chỉ về sự hao tổn, về năm cùng tháng tận, như đồng hồ điểm canh, tờ lịch cuối cùng (“Thong thả điểm giờ tích tắc sang canh”, “Tờ lịch mỏng cuối cùng ai đã xé”, Chén rượu tất niên với lão nông); hay ly rượu đã rót đầy (“Rượu đổ tràn ly rượu rót đời”, Khúc chuyển mùa); hay con diều mong manh trước gió (“Mong manh giấy dó con diều vi vu”, Viết cho mình); hay lẫy nỏ một đi không trở lại (“Giữa cõi vô thường chạm là lẫy nỏ”, Chạm cõi vô thường)…

Nỗi ám ảnh về thời gian trở nên day dứt hơn khi gắn với tuổi già, bệnh tật và sự lụi tàn của thân xác. Trong bài “Viết ở ban công”, thi sĩ tự nhận: “Mới ngày nào còn phổng phao cường tráng… Nay hoa niên run rẩy cả hình hài”. Thời gian ở đây không còn là khái niệm trừu tượng, mà là kẻ tàn nhẫn gặm mòn từng tế bào, từng khao khát. Cái “run rẩy” không chỉ của cơ thể mà còn của tâm hồn, nhắc con người rằng từng sát na đều thấm đẫm sự mất mát.

Tuy nhiên, Hồ Mậu Thanh không tuyệt vọng trước sự ngắn ngủi ấy. Trong “Luận về cõi tạm”, ông nhìn thời gian bằng ánh sáng của Phật pháp: “Cõi tạm chỉ ghé một lần/ Dẫu trăm năm vẫn là cực ngắn”. Cái nhìn minh triết ấy khiến nhà thơ không bi lụy mà trở nên bao dung hơn: “Hãy mong đi sống tạm mà không tạm”.

Và với Hồ Mậu Thanh, thời gian là bi kịch nhưng cũng là phép màu. Nó khiến mọi thứ phai tàn, nhưng cũng “xoa dịu kiếp người khổ đau”, như ông viết trong Màu thời gian. Chính trong giới hạn, con người mới biết quý trọng từng giây phút được sống. Có lẽ vì thế mà ông khép lại bằng một triết lý giản dị mà thấm thía: “Sống một ngày là lãi một ngày”. Ðó là một cách nhìn đặc biệt của Hồ Mậu Thanh: thời gian không chỉ lấy đi mà còn trả lại, không chỉ bào mòn mà còn hồi sinh.

Không chỉ mô tả thời gian, Hồ Mậu Thanh còn chất vấn, luận bàn với nó.

“Ai cũng bảo đời là cõi tạm…
Ngắn lắm thay chớp mắt đã trăng tàn
Ðến tay trắng, ra đi đều tay trắng”
                                             (Luận về cõi tạm)

Ở đây, ông đặt con người trong lộ trình từ “oa oa” chào đời đến “khói hương bay” của cõi trọ. Sự “tay trắng” nhấn mạnh đến tính vô sở hữu tuyệt đối trước thời gian. Nhưng thay vì bi lụy, Hồ Mậu Thanh hướng người đọc đến sự sống “tạm mà không tạm”, “chẳng ganh đua hám lợi danh tài”. Ðây là giọng thơ đã trải nghiệm, từng “vương sầu khổ hạnh” nhưng vẫn giữ được ánh sáng bừng lên ngay cả khi đang ở cõi tạm hay “mỉm cười khi hóa kiếp thiên thai”. Ông hiểu quy luật thời gian để chấp nhận lẽ vô thường và tìm sự an nhiên cho tâm hồn.

… Chờ qua cát bụi sương mù/ Vũ môn vượt cạn trăng thu lại tròn.

Vậy nên với nhà thơ, “được sống là có lãi”: “Sống một ngày là lãi một ngày/ Chết sớm một ngày, mất đi tất cả” (Sống và chết); “Ðược thế này là lãi cả đời ta” (Ðược sống là có lãi)… Tư tưởng “lãi” nghe chừng giản dị nhưng lại là đúc kết sâu xa. Thời gian không tăng chuyến như “tàu thời gian” trong “Chùm thơ cuối thu”, vì thế mỗi ngày được sống đã là giá trị tự thân. Giữa những đổi thay “đen trắng lật đật lắc đều”, giữa những “mặt nạ nào hết tuồng rồi cũng gỡ”, nhà thơ chọn thái độ bình tâm “mục thị cuộc đời”.

Thấu hiểu sự phôi pha là lẽ của tự nhiên, Hồ Mậu Thanh ngay cả khi tự thú về nỗi buồn và lo lắng trước bước đi nghiệt ngã của thời gian cũng vẫn hướng về mùa xuân mới, nguyện “để tim này đập mãi với mùa xuân” (Viết ở ban công). Như vậy, ngay cả khi chiêm nghiệm sự lão hóa, ông vẫn mở ra hướng đi cho tâm hồn: thời gian làm già thân thể nhưng cũng “làm dày thêm tiềm thức”, giúp ta quý hơn những giá trị tinh thần.

Như thể chính cái vô thường của thời gian, của cuộc đời đã khiến con người thấy mình trọn vẹn nhất. Bởi giống như qua những bão giông ta mới thấy được giá trị của những ngày nắng ấm, đời người ngắn ngủi đã cho ta nhận ra từng khoảnh khắc trôi qua đều đáng trân quý. Trong cái “trăm năm vẫn là cực ngắn”, những kiếp người chỉ là cái bóng “nhộn nhịp” hoài với tháng năm, nhưng nếu con người sống trọn vẹn với chính mình thì cái bóng của họ sẽ in hằn vào “thăm thẳm” thời gian. Chẳng gì có nghĩa, nhưng cũng chẳng gì vô nghĩa. Trò chơi của thời gian thật khắc nghiệt nhưng cũng thật phiêu lãng. Hồ Mậu Thanh hiểu “bồ hòn vẫn đắng đó thôi” (Uống trà ở bệnh viện) nhưng ông cũng đợi “trăng thu lại tròn” (Viết cho mình).

“Bóng người” là cái phần hữu hạn, tạm bợ, mỏng manh; còn “thăm thẳm” là chiều sâu vô tận của vũ trụ, của dòng thời gian không bao giờ ngừng chảy. Giữa hai cực ấy, con người nhỏ bé hiện lên vừa cô đơn vừa sáng rỡ. Bóng ấy có thể nhạt dần, tan biến, nhưng vẫn để lại dấu vết trong “thăm thẳm” đời sống bằng ý thức, bằng tình yêu, bằng sự tỉnh thức trước vô thường. Như vậy, chính trong sự hữu hạn, con người mới có cơ hội chạm tới cái vô biên của thời gian. Có lẽ đây chính là thông điệp tuyệt vời mà nhà thơ Hồ Mậu Thanh đã gửi đến chúng ta, qua Thăm thẳm bóng người.

Phạm Quỳnh An