Nhà thơ Vũ Toàn tên đầy đủ là Vũ Xuân Toàn, sinh năm 1955 tại Đô Lương, Nghệ An. Ông từng là bộ đội trinh sát, tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, nhà báo, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Trong lòng hồ thủy điện là tập thơ thứ năm của ông, xuất bản năm 2023 và tái bản năm 2024.

Tôi chưa thấy có tập thơ nào đậm tiếng nói bảo vệ rừng trước nạn phá rừng đầu nguồn như tập thơ này mà tôi đã từng đọc. Với sự nhanh nhạy của người lính trinh sát trước đây và của người làm báo sau này, ông đã để lại ấn tượng sâu sắc tại những tờ báo uy tín như Báo Tuổi Trẻ (ông nguyên là Trưởng văn phòng đại diện ở Nghệ An). Ngoài việc tác nghiệp thường xuyên, nắm bắt trực quan để viết ra các bài báo thời sự lắng đọng và ấn tượng, ông còn chuyển hóa được những cảm xúc sâu lắng của mình vào thơ. Ngay từ những bài đầu của tập thơ ta đã bắt gặp:
“Hơn 1500 mét độ cao…
Những gốc pơ mu ứa nhựa
Những gốc pơ mu tua tủa
Những gốc pơ mu câm lặng
Ngửa mặt lên trời
Tôi đứng nhìn cái chết của rừng cây”
(Trên đỉnh pơ mu)
Để đến nỗi:
“Mắt thao thức giữa trời đen như mực
Rừng lang thang bóng dáng những oan hồn
Oan hồn bay theo hình cây đã chết
Tiếng suối thất thần thét rụng trời đêm”
(Đêm ngủ bên suối Nậm Típ)
Hay:
“Đất hỏi người đâu là tội ác
Người nhìn người lặng im
Cây hỏi người đâu là tội ác
Người nhìn trời lặng thinh”
(Đất – cây và người)

Ông đã quán chiếu sâu hơn để có những hình ảnh lay động về xác chết của cây, của núi, của nụ cười:
“Hiện lên đây đó rụng rời núi sông
Ngắm nhìn nam, bắc, tây, đông
Lạ chưa xác chết vẫn không héo tàn!!!”
(Xác chết)
Để rồi ông liệm nó vào trong bài thơ ngắn hai câu:
“Những tia nắng mặt trời đang chìm dần dưới cỏ
Cây bên mồ không bóng. Nghĩa trang cây”
(Hiện hữu)
Rừng mới ngày nào còn “che bộ đội”, còn “vây quân thù” mà chỉ trong mấy chục năm đã bị chặt phá cạn kiệt. Ngoài bị chặt phá bừa bãi diện tích rừng nguyên sinh đầu nguồn, những cánh rừng còn phải nhường chỗ cho các đại dự án trồng cao su và xây dựng thủy điện. Đầu nguồn sông Cả của Nghệ An cũng đã có 13/20 dự án thủy điện đang hoạt động. Có chỗ trên phạm vi hơn 1 km đã có hai nhà máy thủy điện mọc lên. Để sản xuất ra 1 MW điện phải đổi đi ít nhất 10 đến 30 ha rừng và để có 1000 ha làm thủy điện thì phải san bằng 1000 đến 2000 ha đất rừng ở thượng nguồn. Nạn phá rừng là nguyên nhân chính gây ra hậu quả sạt lở đất, lũ quét, ngập nước mỗi lần mưa bão như hoàn lưu trận bão số 5 mà miền Tây xứ Nghệ phải chịu thiệt hại và đang khắc phục hiện nay.
Trong bài thơ dùng làm tên của tập thơ Trong lòng hồ thủy điện, nhà thơ còn đưa ra một thông điệp khác không kém phần nhức nhối, đó là: những người dân đã di chuyển từ làng bản, đã nhường chỗ cho lòng hồ nay lại tìm về mưu sinh trên các thuyền bè đánh bắt cá trong lòng hồ và chăn nuôi, thả rông bò trâu ở các triền hồ nơi không có mái trường, không có trạm xá:
“Đi dọc hồ đâu chỉ một mà vô số thuyền không khai sinh địa chỉ
Đi ngang hồ đâu chỉ một mà vô số đàn bò mập mạp thả rông.”
Ông tâm sự: là một nhà báo, đi và gặp khắp nơi mọi chốn, ông cứ thấy na ná bóng dáng lòng hồ thủy điện ấy, đấy là lý do ông chọn cái tên này cho tập thơ. Môi trường bị tàn phá cho thấy hậu quả, hệ lụy của một sự quản lý lỏng lẻo, yếu kém. Thi nhân nhìn chỗ nào cũng phát hiện ra ổ mối:
“Đây ổ mối hiện nguyên hình màu đất
Kia đường đi ổ mối nứt màu xanh
Kia tím – đỏ – nâu – vàng – đen rồi trắng
Dưới chân đê vẫn cỏ ngàn năm
Những ổ mối tàng hình. Những tàng hình ổ mối.”
(Ổ mối)

Trong lòng hồ thủy điện tập hợp hơn 50 bài thơ ông viết từ năm 2009 đến 2024. Ông viết chậm lại so với thời trẻ như thể cảm xúc thơ ngày càng cô đọng và tinh túy hơn. Thơ ông thường ít chữ và sâu lắng trên nhiều đề tài.
Thơ hai câu mà nghĩa rộng lắm:
“Vật đổi – sao dời – sao dời – vật đổi.
Cây lúa thản nhiên xanh đến mùa màng”
(Cây lúa)
Thơ ba câu lắng đọng, dư ba:
“Tôi không tin Chúa sinh ra đời
Nhưng tôi tin có lời Chúa nói
Rất thật trong đời mà Chúa không sinh”
(Noel)
Thơ bốn câu mà gom lại cả đời trải nghiệm:
“Lỡ một cuộc ghi âm
Bài báo thành bản án
Trong thời buổi nhiễu nhương
Có thể anh trúng đạn.”
(Nhà báo)
Thơ bốn câu mà tròn đầy ý tứ:
“Tình yêu mê hoặc tình yêu
Hư danh mê hoặc cánh diều giấy bay
Tiếng chim mê hoặc rừng cây
Hư danh mê hoặc bóng mây trên trời”
(Hư danh)
“Lòng vắt kiệt trước câu thơ vừa viết
Mắt rối buồn như thuở yêu ai
Tà vặt* kêu trên đá gầy thảng thốt
Thi sĩ ngồi gối bó giữa vòng tay”
(Thạch Quỳ)
(*Tà vặt là tên một loài chim ở núi đá)
“Nhà vẫn nhà bên bờ sông sóng vỗ
Người vẫn người muôn thuở người ơi
Giấc mơ vẫn giấc mơ đời
Lòng riêng riêng vẫn bên trời giấc mơ”
(Vẫn)
Thơ chỉ năm câu mà tải đạo đi xa thẳm:
“Cây lúa đơm bông giữa đồng mưa nắng
Bông lúa non vươn mình lúa chín
Hạt lúa chín vàng
Bóng lúa uốn câu
Bông lúa cúi đầu về mặt đất”
(Bông lúa)
“Hoa không thể dừng hương
Biển không thể dừng sóng
Nhưng con người có thể
Phô bày sự tầm thường bằng nhịp điệu của trống
Tô vẽ sự tầm thường bằng câu chuyện “anh hùng”.”
(Không thể và có thể)
Từ trăn trở của bản thân:
“Ta có là cây
Ta có là quả
Ta có là hạt
Dâng chi cho đời”
(Quả chín từ cây)
Cho đến các bài thơ viết về mẹ, về con, về “Người lính trở về từ đảo Gạc Ma”… hay “Bất chợt tiếng ve”, “Giếng”, “Giữa cánh rừng sau mưa” đến chùm thơ “Lại viết từ những bài báo cũ”, thực sự bài nào cũng đều đọng lại cái vía thơ Vũ Toàn. Thơ như cảm xúc bất chợt nắm được và phải thoát ra, không khiên cưỡng, càng đọc càng thoát ý, không nhàm chán. Đó là toàn bộ cảm nhận của tôi khi đọc hết tập thơ Trong lòng hồ thủy điện.
Vũ Toàn là người cầm bút giữa nghề báo – nghiệp thơ. Tại sân chơi thơ, ông sớm đạt những giải thưởng để được ngồi vào các chiếu thơ sang trọng của Hội Nhà văn, của Tạp chí Văn nghệ Quân đội – nơi mà rất ít người yêu thơ của xứ mình tới được. Mừng cho ông vào tuổi thất thập cổ lai hy mà vẫn cứ phong độ, vẫn phấn đấu để làm “Người bình thường” như tiêu đề một bài thơ trong tập. Với bút lực sắc sảo và chín đằm như “Trái chín” của một bài thơ trong tập thơ, tôi đưa ra để kết thúc bài viết này:
“Tấn trò đời vẫn diễn
Như chưa từng đứng yên
Ta đi làm trái chín
Hương thơm về cõi riêng”
(Trái chín)
Lương Khắc Thanh















