27.5 C
Vinh
Thứ Hai, Tháng 5 18, 2026
Trang chủ Văn xuôi Trở lại Cao Bằng

Trở lại Cao Bằng

Cũng phải đến gần 10 năm, tôi mới có dịp trở lại Cao Bằng. Thực ra thì tôi cũng đã có đôi ba lần đặt chân lên mảnh đất Cao Bằng, mỗi lần đến với những mục đích khác nhau. Lần thì đến thăm nhà bạn, lần thì đến để học tập kinh nghiệm trong triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Có lần lên đây trong chương trình kỷ niệm 30 năm ngày ra trường của khóa 16 Khoa Vật Lý, Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc… Còn lần này trở lại là để khám phá, tìm hiểu và sáng tác về vùng đất, con người nơi đây.

Khoảng cách thời gian đủ cho tôi cảm nhận biết bao điều đổi thay trên mảnh đất còn nhiều gian khó nhưng tình người nồng hậu, hiếu khách. Đường đi Cao Bằng để lại ấn tượng mạnh cho không chỉ những người lần đầu lên vùng đất này. Từ Hà Nội, nếu không muốn chọn đi theo quốc lộ 3 qua Thái Nguyên, Bắc Kạn thì có thể đi theo quốc lộ 1 đến Lạng Sơn rồi rẽ quốc lộ 4A qua Thất Khê, Đông Khê để tới Cao Bằng. Cả hai ngả đường đều uốn lượn qua hết rặng núi này tới rặng núi kia. Lần này chúng tôi chọn tuyến Hà Nội – Lạng Sơn – Cao Bằng. “Khi trở lại Cao Bằng con đường tươi màu nắng/Tiếng chim hót trên cao giữa rừng già im vắng/Khi trở lại Cao Bằng làng bản mờ trong sương/Vẫn ngọt ngào tiếng hát của người đi làm nương/Ơi Cao Bằng yêu thương…”. Bài hát Trở lại Cao Bằng của nhạc sĩ Tân Huyền cứ văng vẳng theo từng khúc cua từ Lạng Sơn qua Thất Khê rồi Đông Khê. Cảnh và người Cao Bằng dần trải dài trước mắt với những nương ngô, vườn sắn, thửa ruộng cây thuốc lá xanh ngắt miên man. Và rồi thành phố Cao Bằng hiện ra trước mắt chúng tôi khi chiều dần buông với phố sá khang trang, sầm uất và trong lành đến ngạc nhiên.

Thành phố Cao Bằng đã khác xưa nhiều, nhà cao tầng đẹp, khang trang, phố phường đông đúc, nhộn nhịp…

Đi trên những con đường đô thị 4 làn xe, dải phân cách trồng hoa, cây cảnh chợt thương người lính thú ngày xưa dặn vợ trước khi lên đường trấn ải: “Nàng về nuôi cái cùng con/Để anh đi trảy nước non Cao Bằng”. Người Cao Bằng tự hào quê mình bao đời vẫn là phên giậu của đất nước. Những Nùng Trí Cao, Nùng Tồn Phúc, Nùng Văn Vân… quật cường chống ngoại xâm, không cam chịu làm nô lệ. Thành nhà Mạc ở Nà Lừ, Cao Bình là căn cứ cuối cùng của một vương triều tuy ngắn ngủi nhưng kiên cường tự tôn. Ai đã từng đặt chân lên mảnh đất biên cương này đều có chung một kết luận: “Người Cao Bằng xưa nay vẫn cứ vậy: chân tình và mến khách”.

Cảm nhận đầu tiên là sự thay đổi đến không ngờ của thành phố Cao Bằng khi sải bước chân trên những đường phố rợp mát bóng cây và vô cùng sạch sẽ. Ngỡ ngàng trước vẻ đẹp yên bình của thành phố, anh bạn đi bên tôi trầm trồ: “Đẹp như đường phố Hà Nội anh nhỉ”. Cao Bằng trong tôi cách đây gần 20 năm trước chẳng khác gì một thị trấn nhỏ dưới xuôi, chỉ khác là có đông dân cư hơn do là nơi tập trung các cơ quan, ban, ngành của tỉnh. Ấn tượng về Cao Bằng lúc đó là sự thiếu thốn. Bây giờ, thành phố Cao Bằng đã khác xưa nhiều. Nhà cao tầng đẹp, khang trang, phố phường đông đúc nhộn nhịp suốt đêm ngày. Trụ sở các cơ quan Nhà nước được xây dựng riêng thành từng khu, đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới. Hôm nay, chúng tôi đến thành phố Cao Bằng rợp bóng cờ hoa, đông vui và nhiều sắc màu trang phục dân tộc hơn mọi ngày, bởi những ngày này thành phố Cao Bằng đang hướng tới kỷ niệm 12 năm thành lập (2012-2024) và chuẩn bị Hội thảo quốc tế mạng lưới Công viên địa chất toàn cầu UNESCO khu vực châu Á Thái Bình Dương sẽ tổ chức vào tháng 12/2024 đúng dịp kỷ niệm 525 năm thành lập tỉnh Cao Bằng (1499 – 2024).

Những cái siết tay thật chặt, những nụ cười nồng ấm, những cái khoác tay “cạn chén” đầy tình thương mến thương của người Cao Bằng dường như khiến mấy anh em chúng tôi cùng chuếnh choáng. “Người Cao Bằng bọn tớ thật thà, chân tình lắm. Đừng khách sáo mà Cao Bằng buồn đấy”. Giọng của anh bạn cùng lớp Lục Văn Dương – Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Cao Bằng thỏ thẻ nhưng đủ mạnh khiến cánh đàn ông chẳng thể nào chối từ nổi chén rượu sóng sánh trong vắt.

Cơm tối xong, ba người bạn đồng nghiệp rủ tôi đi dạo phố. Tò mò và muốn khám phá đêm ở thành phố Cao Bằng như thế nào nên dù hơi mệt tôi vẫn quyết định đi. Chúng tôi bắt đầu sải bước trên phố đi bộ Kim Đồng, ra đường Võ Nguyên Giáp rồi ngược về Nguyễn Du… Đêm Cao Bằng, không khí mát mẻ, trong lành. Dạo quanh một vòng thành phố dọc đôi bờ Bằng Giang, Hiến Giang, từ Nà Cạn lên Đề Thám, theo đường Hồ Chí Minh thênh thang sang phố Phủ Cao Bình, ngược về Vĩnh Quang qua Ngọc Xuân thong dong tuyến đường sánh đôi nối liền hai mạn đông tây mới càng cảm nhận được thành phố Cao Bằng đang chuyển mình rạo rực, tích tụ nguồn lực mới để cất cánh vươn lên. Dọc hai bên đường, nhà cửa cao tầng mọc lên san sát, lung linh sắc màu, từ đầu phố đến cuối phố có nhiều khách sạn, nhà hàng loại sang, điều mà gần 20 năm trước đây vẫn là “giấc mơ”. Thành phố có khá nhiều quán cà phê thu hút khách không kém gì ở thành phố Vinh. Đi mỏi chân, chúng tôi lại sà vào tỉ tê bên quán cà phê “Hala” nằm trên bờ Bằng Giang. Sau gần 2 tiếng ngồi thưởng thức cà phê, ngắm cảnh, mấy anh bạn lại rủ chúng tôi đi ăn đêm. Theo anh giới thiệu, ở đây có cả một khu chợ ẩm thực dành cho thực khách ở ngay trung tâm phố.

Khu vực mỏ Thiếc Cao Bằng

Tinh mơ ngày hôm sau, chúng tôi đến Tĩnh Túc (huyện Nguyên Bình) thăm mỏ Thiếc được xây dựng cách đây gần 70 năm. Điều gây ấn tượng nhất là có khoảng chục dãy nhà tập thể 2 tầng có thiết kế giống nhau, đang dần cũ đi. Đây là nơi ăn ở, sinh hoạt của đội ngũ cán bộ, công nhân mỏ thiếc vào thời điểm trước đây.

Mỏ Thiếc Tĩnh Túc chính là “đứa con đầu lòng” đặt nền móng cho ngành khai khoáng kim loại màu Việt Nam. Công trình khi đó có quy mô lớn nhất Đông Nam Á, do Liên Xô hỗ trợ xây dựng và sản xuất, góp phần thắt chặt tinh thần hữu nghị Việt – Xô. Qua lời giới thiệu, chúng tôi tìm gặp ông Triệu Văn Câu (92 tuổi, quê ở huyện Trùng Khánh, Cao Bằng) – người từng là công nhân mỏ Thiếc thời kỳ đầu tiên. “Tại mỏ Thiếc Tĩnh Túc khi ấy có hơn 3.000 công nhân làm việc, công việc vất vả thật nhưng tất cả rất vui vì được sinh hoạt tập thể. Đặc biệt hơn cả là cuộc sống rất đầy đủ mặc dù đang trong thời kỳ bao cấp”. Ông Câu vui vẻ nhớ lại.

Người công nhân già Triệu Văn Câu

Theo lời người công nhân già, dẫu thời buổi khó khăn vất vả, nhưng mọi sinh hoạt ăn uống của những công nhân ở đây phần lớn tốt hơn những nơi khác. Hơn nữa, người lao động dưới xuôi lên đây dạy cho bà con cách trồng trọt, tăng gia sản xuất, từ đó có thêm nhiều món ăn cho bữa cơm thường nhật. Đến nay, không còn sự phát triển và tấp nập, thị trấn Tĩnh Túc là hiện thân của quá khứ với vẻ đẹp cổ kính, yên bình. Phần lớn người dân sống tại đây là người địa phương và một số công nhân. Dọc thị trấn chỉ có lác đác vài ngôi nhà lớn còn hầu hết là nhà cấp 4 đã được xây từ vài chục năm trước nên nay đã xuống màu. Ngôi nhà màu vàng trải qua bao thăng trầm cùng công nhân mỏ thiếc trứ danh đến nay đã ngả sang màu trắng đục. Bên ngoài, những mảng tường được bao phủ bởi rêu phong tạo nên sự cổ kính.

Một cửa hàng buôn bán  ở Cao Bằng

Dừng chân tại một quán nhỏ, chủ quán là anh Lê Văn Thanh (43 tuổi) tâm sự: “Vào khoảng năm 2001, dân cư còn đông lắm! Nhưng cũng từ thời điểm ấy, việc làm tại mỏ giảm đáng kể, hầu hết công nhân cũng đã sơ tán đi nơi khác. Những căn nhà của công nhân ngày xưa, căn có người ở, căn thì không”. Anh Lê Văn Thanh còn cho biết, anh là thế hệ thứ tư sống trong căn nhà này. Thị trấn Tĩnh Túc sầm uất, tấp nập hơn 50 năm qua cũng nhờ mỏ khai thác thiếc, khi ấy công nhân rất đông. Nay mỏ thiếc giảm lượng công nhân, cuộc sống của người dân trở nên yên bình hơn. Tuy vậy, với sự phát triển của xã hội, người dân nơi đây đang hòa mình và thích nghi với nhịp sống hiện tại, đến nay đời sống của người dân vẫn được ổn định.

Đến Cao Bằng mà không tới thác Bản Giốc thì thực sự chuyến đi mất hẳn một nửa ý nghĩa. TS Bế Kim Giáp – anh bạn cùng lớp thời học đại học dẫn đường đưa chúng tôi đi thăm quan bảo thế. Thác Bản Giốc được ví như “nàng công chúa ngủ trong rừng” mang vẻ đẹp kỳ vĩ. Sách Dư địa chí Cao Bằng có viết rằng: Con sông Quây Sơn chảy từ Trung Quốc vào Việt Nam qua Bản Giốc, xã Đàm Thủy (huyện Trùng Khánh) thì tách ra thành nhiều nhánh rồi đột ngột hạ thấp tạo thành thác có 3 tầng. Càng đến gần, con người càng bị vẻ đẹp quyến rũ thân thiện của nó hút hồn. Tôi đứng trên bờ nhìn ngọn thác cuồn cuộn, tràn ngập những dữ kiện lịch sử trong dòng chảy của nó. Thác Bản Giốc đang mùa đẹp nhất, nước tung trắng xóa, đẹp rực rỡ trong ánh nắng sớm mai. Hai nghệ nhân Nông Bích Ngà và Hoàng Á Khải ở xã Đàm Thủy, thường xuyên ngồi bên vệ đường đánh đàn tĩnh và hát then phục vụ du khách thăm quan nói rằng: “Thác Bản Giốc mùa nào cũng rất đẹp, nhưng chỉ có mùa hè nước nhiều mới thấy hết vẻ hùng vĩ của nó”.

Đến Cao Bằng mà không tới thác Bản Giốc thì thực sự chuyến đi mất hẳn một nửa ý nghĩa…

Không xa khu vực thác là chùa Phật tích Trúc Lâm Bản Giốc. Đây là một trong những ngôi chùa đầu tiên xây dựng ở biên cương phía bắc. Chùa có kiến trúc đẹp, nằm trên núi cao như một dấu ấn tinh thần của văn hóa Việt nơi mảnh đất địa đầu thiêng liêng. Có lẽ huyện Trùng Khánh là địa phương có nhiều thắng cảnh nhất của Cao Bằng. Cách thác Bản Giốc không xa là hang Ngườm Ngao, một hang động tuyệt đẹp, có thể sánh cùng các hang động ở Hạ Long, Phong Nha, Hương Tích…

Trưa đó, chúng tôi ghé thăm thị trấn Quảng Uyên, huyện Quảng Hòa theo lời mời của anh bạn cùng lớp Nông Văn Thông – Phó Chủ tịch UBND huyện. Xe dừng bánh ở nhà hàng Trúc Lâm ngay cạnh đường. Ở đó vợ chồng Nông Văn Thông đã đợi sẵn. Tôi vừa xuống xe, Thông đã chạy đến ôm thật chặt: “Tiếc là các bạn không có thời gian, nếu không tớ đưa đi thăm thú Quảng Hòa, đẹp lắm đấy. Quê mình đẹp bởi nó mang vẻ đẹp của vùng núi Đông Bắc với cảnh quan thiên nhiên hoang sơ, kỳ vỹ, những dãy núi trùng điệp bên những cánh đồng xanh bạt ngàn kết hợp hệ thống hang động, sông suối tạo nên bức tranh thiên nhiên đa dạng, phong phú. Nổi bật với hồ Thang Hen, thác Thoong Chang, thác Bản Sầm, sông Bằng Giang, cửa khẩu quốc tế Tà Lùng”. Nông Văn Thông giới thiệu về quê hương mình như một hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp.

Khu Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Pắc Bó   

Sau bữa cơm trưa, chúng tôi lên đường đi thăm quan Khu Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Pắc Bó. Trên đường đi, theo giới thiệu của TS Bế Kim Giáp, chúng tôi ghé thăm làng rèn cổ Phúc Sen với lịch sử trên 300 năm tuổi. Bây giờ sản phẩm của làng nghề này phong phú, đa dạng hơn, có uy tín không chỉ trong phạm vi tỉnh Cao Bằng mà còn có mặt ở nhiều tỉnh thành cả nước và các huyện biên giới của tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Chính vì vậy mà làng rèn cổ Phúc Sen được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. “Ở Cao Bằng còn rất nhiều làng nghề truyền thống được xếp hạng di tích như làng đan lát ở Bồng Sơn (huyện Trung Khánh), làng hương Phia Thắp (Quảng Uyên), làng nghề làm đường phên ở Phục Hòa, làng thổ cẩm Lũng Nọi, làng nghề làm giấy bản ở Nùng An”. TS Bế Kim Giáp hào hứng chia sẻ.

Quả đúng như anh bạn tôi đã nói, Cao Bằng không chỉ “gạo trắng nước trong” mà non nước hữu tình, thật gần gũi và thân thương. Chúng tôi nhận ra điều đó khi về thăm Pác Bó – Di tích Quốc gia đặc biệt của Cao Bằng. Đó là nơi mà mùa xuân năm 1941, sau 30 năm bôn ba ở nước ngoài, Bác Hồ đã về bản Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng và chọn hang Pác Bó, cạnh đầu nguồn suối Lênin (tên do Bác đặt) để tổ chức và lãnh đạo cách mạng. Khu di tích hôm nay đã được tôn tạo, khang trang hơn xưa nhiều. Tôi nhận thấy mảnh nguồn cội này – nơi lưu giữ những dấu ấn về Bác Hồ trong những năm 1941-1945, sau mấy chục năm bôn ba trở về Tổ quốc vẫn giữ được vẻ yên bình, trầm mặc của núi rừng nguyên sơ. Núi Các Mác, suối Lênin, hang Cốc Bó, lán Khuổi Nặm, bàn đá nơi Bác ngồi bên suối dịch sách, làm thơ, gốc cây nơi Bác từng ngồi câu cá… được lưu giữ, tôn tạo trong một quần thể hài hòa. Đền thờ Bác Hồ được xây dựng để du khách về nguồn bày tỏ sự tưởng nhớ Bác. Cột mốc số 0 đường Hồ Chí Minh như biểu tượng cho một thời kỳ phát triển mới. Khu tưởng niệm liệt sĩ Kim Đồng cách đó không xa tạo nên quần thể di tích đặc biệt Pắc Bó. Chúng tôi bước chân lên xe điện khi nắng chiều đã ngả màu, anh Bế Kim Giáp tự hào khoe với chúng tôi: “Vùng đất Cao Bằng có bề dày văn hóa, lịch sử với hơn 215 di tích văn hóa, lịch sử được xếp hạng trong đó có 3 khu dích tích quốc gia đặc biệt, đó là: Khu Pác Bó; Rừng Trần Hưng Đạo – nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam và Địa điểm Chiến thắng Biên giới năm 1950 ở huyện Thạch An”.

Trời tắt nắng, chúng tôi trở về thành phố. Vẫn cung đường quanh co, trùng điệp núi non và những ruộng lúa đang lên xanh mơn mởn. Lại được nghe bài hát dân ca quen thuộc của người Tày. Lại được nghe câu chuyện thách cưới của bà con người Nùng cùng những tục lệ đậm đà bản sắc qua lời kể của TS Bế Kim Giáp… Và được nhìn thấy nụ cười của những em nhỏ… Hai mươi năm, Cao Bằng thấp thoáng trong tôi những mảng màu của ký ức.

Hai ngày ở Cao Bằng, đi, nghe và thấy tạo cho tôi một cảm nhận rằng: Cao Bằng không chỉ có cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp mà còn có nhiều nét văn hóa bản địa độc đáo, có những món ăn ngon thưởng thức một lần sẽ nhớ mãi. Chính điều đó khiến cho ai đã đến một lần, lại muốn trở lại, rồi lại một lần đến nữa… Cứ thế vùng đất biên cương này khiến bạn say mê đến chẳng muốn về!

Vi Hợi