Ngày 30/4/1975, chúng ta kết thúc cuộc kháng chiến kiến quốc và là sự kiện quan trọng để thống nhất đất nước sau một thời gian dài chia cắt. Đây là một sự kiện quan trọng, cũng là lần gần nhất chúng ta thực hiện một cuộc trường kỳ kháng chiến để thống nhất đất nước. Nó là sự tiếp nối tư tưởng thống nhất của cha ông hàng ngàn năm qua, cũng thể hiện quá trình quốc gia dân tộc ở Việt Nam vẫn tiếp tục là nền tảng cốt yếu trong quá trình phát triển.
Tư tưởng độc lập và thống nhất là sợi dây xuyên suốt tiến trình lịch sử
Trong suốt tiền trình lịch sử hàng ngàn năm, trải qua nhiều triều đại khác nhau, nhưng người Việt đều có chung tư tưởng là thống nhất quốc gia dân tộc. Điều này thể hiện rõ qua từng thời đoạn và qua nhiều cuộc chiến tranh ác liệt để gìn giữ và bảo vệ tư tưởng đó. Không ít lần quân xâm lược ngoại bang xâm chiếm và muốn chia cắt đất nước thành những khu nhỏ để cai trị, hay phân chia đất nước theo những hệ thống chính trị khác nhau để chia rẽ dân tộc. Nhiều khi tưởng chừng như tư tưởng thống nhất bị đe dọa nghiêm trọng, đất nước bị chia cắt khó mà thống nhất lại được. Nhưng rồi cha ông ta đã chấp nhận trả mọi cái giá để gìn giữ sự thống nhất đất nước. Nên nói thống nhất là tư tưởng cốt lõi và xuyên suốt tiến trình lịch sử của Việt Nam là đúng đắn.
Có hai mối đe dọa lớn nhất đến sự thống nhất đất nước. Đó là âm mưu phân chia đất nước Việt Nam thành các vùng nhỏ, khu vực để chiếm đóng, cai trị hay kiềm chế của các thế lực ngoại xâm. Trong đó, với thế lực xâm lực phương Bắc luôn tìm cách để xâm chiếm, cai trị chúng ta trong ngàn năm lịch sử. Và nó vẫn tiếp tục trên những phương diện khác nhau. Đã nhiều lần chúng ta thất bại, bị quân đô hộ chia thành nhiều quận huyện để cai trị. Đến thế kỷ XX, thực dân Pháp cũng chia Việt Nam thành các vùng với các thể chế khác nhau để tổ chức cai trị nhân dân ta. Sau đó là cả thực dân Pháp và phát xít Nhật chia nhau đất nước ta thành các vùng quyền lực khác nhau để cai trị. Sau đó nữa, đế quốc Mỹ và các thế lực khác đã phân chia Việt Nam thành hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau kéo dài trong nhiều năm. Mối đe dọa thứ hai đối với sự thống nhất đất nước chính là sự tranh đoạt quyền lực giữa các tập đoàn chính trị trong nước để phân chia lãnh thổ và qua đó phân chia đất nước. Trong lịch sử, mối đe dọa này cũng diễn ra thường xuyên: từ loạn 12 sứ quân đến sự phân chia Lê – Mạc, Nam Triều – Bắc Triều, Trịnh – Nguyễn,… Cứ mỗi lần chia cắt đất nước, người dân lại vô cùng thống khổ. Chia cắt đất nước thì cũng tạo ra cảnh quê hương chia cắt, gia đình chia cắt, anh em chia cắt, vợ chồng chia cắt… Những điều đó càng làm cho tư tưởng thống nhất của người Việt Nam thêm mãnh liệt. Có những lúc chúng ta tưởng chừng như sẽ giống với nhiều nước khác, không thể thống nhất lại sau một thời gian quá dài bị chia cắt. Nhưng rồi sức mạnh đến từ tư tưởng thống nhất của mọi con người Việt Nam đã lại trở thành động lực để người dân cả nước đòi lại sự thống nhất giang sơn. Có thể coi, tư tưởng thống nhất là một tài sản tinh thần lớn của người Việt Nam.
Thống nhất quốc gia và bảo vệ độc lập dân tộc là nhiệm vụ quan trong của các thế hệ
Tư tưởng thống nhất được thể hiện rõ qua nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước. Nó cũng gắn với những chiến công hiển hách của các bậc vĩ nhân được tôn vinh là những anh hùng dân tộc của đất nước Việt Nam. Và thống nhất quốc gia, bảo vệ độc lập dân tộc là nhiệm vụ quan trọng của các thế hệ con người Việt Nam. Ngay từ thời mới dựng nước, chính quyền Trung ương chỉ cai quản một phần nhỏ nhưng sự thống nhất vẫn được thể hiện qua ý chí chống giặc ngoại xâm từ phương Bắc. Cứ mỗi lần thực hiện chiến tranh chống xâm lược từ phương Bắc mà triều đình yếu thế thì lùi về phía Nam, sau đó tập hợp lực lượng tiến ra Bắc để thống nhất lại lãnh thổ quốc gia. Trong ngàn năm đô hộ của phương Bắc, đất nước bị chia thành các châu quận nhỏ để cai quản, hàng trăm cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta đã vùng lên, dùng xương máu để đòi lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Đó là khởi nghĩa Hai Bà Trưng thế kỷ I, là khởi nghĩa Lý Nam Đế thế kỷ VI-VII, khởi nghĩa Mai Thúc Loan, Phùng Hưng thế kỷ VIII, Khúc Thừa Dụ thế kỷ IX. Từ thời tự chủ, các triều đại phong kiến Việt Nam cũng không ngừng tranh đấu, chống lại ngoại xâm phương Bắc để bảo vệ độc lập và thống nhất đất nước. Từ Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Tây Sơn… với những vị anh hùng dân tộc như Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… và hàng loạt chiến công của họ là những sự kiện quan trọng thể hiện tinh thần bất khuất, chấp nhận mọi hi sinh để bảo vệ độc lập dân tộc.

Không chỉ chống ngoại xâm mà chống nội phản, chống lại tư tưởng phân chia đất nước của các tập đoàn quyền lực cũng thường xuyên diễn ra nhằm đảm bảo sự thống nhất đất nước. Đinh Bộ Lĩnh đẹp loạn 12 sứ quân, chiến tranh Nam Triều – Bắc Triều, Trịnh – Nguyễn phân tranh… Phải nhấn mạnh rằng hai mối đe dọa trên có mối liên hệ với nhau. Mỗi khi trong nước có chiến tranh phân chia quyền lực thì đẩy dân tộc vào mối họa ngoại xâm. Nhưng cũng vì vậy mà tinh thần dân tộc lên cao làm nền tảng để thống nhất đất nước và tập hợp toàn dân đánh bại quân xâm lược. Nó trở thành một vòng tuần hoàn đặc biệt trong tiến trình của một dân tộc luôn hứng chịu nhiều cuộc chiến tranh xâm lược từ ngoại bang. Cứ sau một lần bị chia cắt, dân tộc Việt Nam lại đứng lên mạnh mẽ và kiên quyết đấu tranh để thống nhất lại đất nước. Và sau mỗi lần như vậy, người Việt lại mạnh mẽ hơn, tinh thần bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước lại lên cao hơn. Trải qua nhiều thế hệ tiếp nối, nó đã trở thành một động lực quan trọng, một thứ sức mạnh tinh thần to lớn của đất nước Việt Nam.
Sự kiện 30/4/1975 và tư tưởng thống nhất đất nước của người Việt thời hiện đại
Từ thế kỷ XVI, Việt Nam trải qua một giai đoạn dài liên tục bị chia cắt bởi các thế lực khác nhau trong và ngoài nước. Cứ bị chia cắt thì lại vùng lên đấu tranh để giành thống nhất. Nhưng được một thời gian lại bị chia cắt. Cứ vậy trong nhiều thế kỷ liên tục đất nước phải đấu tranh để bảo vệ độc lập và thống nhất. Thế kỷ XX, mọi thứ còn khó khăn gian khổ hơn khi liên tục bị các thế lực ngoại bang lẫn nội chiến chia rẽ đất nước. Phải đến ngày 30/4/1975, với chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi, dân tộc Việt Nam mời giành lại độc lập và đất nước Việt Nam mới được thống nhất. Đây là một thắng lợi quan trọng, như Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định “Trong quá trình cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng, ba cái mốc chói lọi bằng vàng: Tổng khởi nghĩa tháng Tám, Chiến thắng Điện Biên Phủ, Chiến thắng mùa Xuân 1975, đại thắng mãi mãi sáng ngời trong sử sách. Nhân dân Việt Nam đã làm nên câu chuyện thần kì tưởng chừng không thể làm được giữa thể kỷ XX. Lần đầu tiên trong lịch sử, một dân tộc vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, kinh tế kém phát triển, đánh thắng những cường quốc, đế quốc chủ nghĩa chủ yếu bằng sức của chính mình, nêu một tấm gương anh dũng, bất khuất, trí tuệ, tài năng trước toàn thế giới”. Còn Tổng Bí thư Lê Duẩn lại đánh giá: “Đây là thắng lợi của cả dân tộc, không phải của riêng ai”. Sự kiện 30/4/1975 cũng là một mốc son tiêu biểu tiếp theo tư tưởng thống nhất đất nước của người Việt, là đỉnh cao của tinh thần yêu nước, bảo vệ độc lập và giữ gìn sự thống nhất đất nước.
Chúng ta đã giành vô vàn chiến thắng trước các thế lực ngoại xâm, nhưng đây là một chiến thắng đặc biệt, vừa thắng ngoại xâm, vừa thắng nội chiến để thống nhất đất nước. Bởi mục tiêu xuyên suốt lịch sử Việt Nam không chỉ giải phóng dân tộc, không chỉ bảo vệ độc lập dân tộc mà còn phải thống nhất đất nước. Chỉ cần một trong hai mục tiêu đó chưa hoàn thành thì cách mạng vẫn chưa thể kết thúc. Xuyên suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, độc lập dân tộc và thống nhất đất nước là hai nhiệm vụ, hai mục tiêu cao nhất mà Đảng và nhân dân kiên quyết hướng đến. Đuổi Nhật, đuổi Pháp rồi đuổi Mỹ ra khỏi đất nước nhưng chưa thống nhất thì chưa thể dừng lại. Vậy nên chỉ đến khi chiến dịch Hồ Chi Minh kết thúc, mở đường cho việc thống nhất toàn vẹn đất nước thì chúng ta mới chấp nhận. Thế nên, giá trị của sự kiện 30/4 không dừng lại ở chiến thắng, mà là thống nhất, là đoàn kết và hướng đến phát triển. Đó là giá trị quan trọng nhất làm nên tính lịch sử của nó trong thời hiện đại.

Thống nhất văn hoá và tộc người là hành trình liên tục của các cộng đồng
Độc lập dân tộc, thống nhất lãnh thổ mới chỉ là một phần trong tư tưởng thống nhất của người Việt Nam. Bên cạnh đó còn một nhân tố quan trọng là thống nhất về văn hóa, về tộc người. Thống nhất trên phương diện văn hóa, tộc người không phải là gộp vào một nắm, không phải là cào bằng tất thẩy, mà là thống nhất về nguyên tắc, thống nhất về mục tiêu và thống nhất về định hướng phát triển. Từ Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943 đã xác định điều đó. Văn hóa Việt Nam có 3 nguyên tắc chung phải là dân tộc hóa, đại chúng hóa và khoa học hóa. Mục tiêu chung của văn hóa Việt Nam là lấy con người làm trung tâm, tôn trọng con người, tôn trọng các nền văn hóa của các dân tộc trong đất nước Việt Nam. Định hướng chung của văn hóa Việt Nam là văn hóa làm mạch nguồn để xây dựng con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng, góp phần xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, đưa văn hóa thành nguồn lực phát triển, để văn hóa soi đường cho quốc dân đi. Nhưng tư tưởng này liên tục được phát triển qua các giai đoạn khác nhau. Ngày nay, chúng ta vẫn luôn nhấn mạnh văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng là vậy. Thống nhất về nguyên tắc, mục tiêu và định hướng, đa dạng về tộc người, về vùng miền, về địa phương, về chất liệu và về nhóm…. Sự đa dạng ngày càng được quan tâm, tôn trọng và được giữ gìn, phát huy trong quá trình phát triển. Nhưng sự đa dạng đó luôn gắn với tính thống nhất, không phá ra ngoài khuôn khổ thống nhất được.
Bước vào thời kỳ hội nhập và phát triển, sự đa dạng văn hóa trở thành một nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế. Đây cũng là cơ hội để đưa văn hóa góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước như quan điểm của Đảng, của Bác và của Nhà nước trong nhiều năm qua. Nhưng không vì vậy mà tư tưởng thống nhất sẽ bị đe dọa. Sự đa dạng trong thống nhất vẫn được khẳng định. Các đặc trưng văn hóa tộc người riêng biệt vẫn được tôn trọng, bảo tồn và phát huy, nhưng nó luôn nằm trong dòng chảy văn hóa Việt Nam với những nguyên tắc, mục tiêu và định hướng thống nhất. Hàng loạt các chính sách, quy định chung về xây dựng đời sống văn hóa mới, xây dựng con người Việt Nam thời kỳ hội nhập và phát triển là kim chỉ nam cho các địa phương, các cộng đồng làm nền tảng để phát triển các yếu tố riêng của mình. Đây là nhân tố quan trọng để tiếp nối tư tưởng thống nhất trong lịch sử của người Việt vào thời đại mới. Và nó cũng là yếu tố quan trọng góp phần xây dựng đất nước phát triển mạnh mẽ về kinh tế nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa, góp phần bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhất đất nước mà cha ông bao thế hệ đã truyền lại cho chúng ta hiện nay.
Tóm lại, quá trình quốc gia dân tộc Việt Nam xuyên suốt lịch sử ngàn năm gắn với giá trị độc lập và thống nhất. Độc lập thể hiện cao nhất là độc lập dân tộc. Trải qua hàng trăm cuộc chiến chống quân xâm lược ngoại bang, người dân Việt Nam không ngại hi sinh tất cả để bảo vệ độc lập dân tộc, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Thống nhất cao nhất là là thống nhất đất nước. Dù trải qua nhiều lần bị chia cắt bởi ngoại xâm, bởi nội phản, nhưng rồi trên hết mọi người dân Việt Nam đã không chấp nhận đất nước bị chia cắt, bằng mọi giá phải thống nhất đất nước. Nhưng chúng ta không chỉ thống nhất đất nước mà còn thống nhất về văn hóa tộc người trên cơ sở các nguyên tắc, mục tiêu và định hướng phát triển. Đó cũng là tư tưởng độc lập và thống nhất xuyên suốt tiến trình lịch sử Việt Nam.
Trang Tuệ















