Năm mươi năm sau cuộc chiến đấu để đất nước nối liền một dải, độc giả và giới văn chương vẫn không thể nào quên một thế hệ viết đã tạo nên dòng văn học chiến tranh luôn chảy mạnh mẽ trên văn đàn Việt Nam. Những tác phẩm được khởi sinh từ chiến tranh, từ ký ức những người lính đã nằm xuống với đất mẹ, của những người ngày về không trọn vẹn, luôn đau đáu trong tâm khảm biết bao người đọc. Nhưng nỗi đau đáu ấy luôn chói lọi và rạng rỡ hơn theo lớp lớp thời gian.
Rạng ngời với thời gian
Trong cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc, theo mệnh lệnh của trái tim, những nhà văn, nhà thơ vẫn vào chiến trường tham gia chiến đấu với nhiều công việc khác nhau như: trực tiếp cầm súng chiến đấu, phóng viên mặt trận, hoạt động văn hóa văn nghệ. Họ có thể cầm súng rồi từ cảm xúc mà viết; hoặc đã viết bằng trái tim yêu nước và giờ là bằng trải nghiệm nơi sa trường. Nhưng dù khơi nguồn từ đâu, họ vẫn là thế hệ vừa cầm súng vừa cầm bút. Những áng văn thơ từ trong khói lửa ngời sáng lên tình yêu dân tộc mãnh liệt và sự thiết tha cho nước nhà sớm đến ngày thống nhất.
Lê Anh Xuân với “Dáng đứng Việt Nam” vẫn âm ba vọng vang dù ông đã nằm lại ở trận Mậu Thân khói lửa. Ông hi sinh ngày 21 tháng 5 năm 1968 tại ấp Phước Quảng, xã Phước Lợi, huyện Cần Đước, Long An trong một trận càn của quân đội Mỹ. Ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân năm 2011. Bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” ban đầu được Lê Anh Xuân đặt tên là “Anh giải phóng quân”, nhưng sau này khi cho đăng trên tờ Văn nghệ giải phóng thì nhà văn Anh Đức đã cho đổi tên thành “Dáng đứng Việt Nam”. Cũng từ đó cho đến bây giờ những câu thơ như tạc nên bức tượng bi hùng của người chiến sĩ vẫn được biết bao thế hệ nằm lòng: “Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường/ Chỉ để lại cái dáng- đứng – Việt – Nam tạc vào thế kỷ/ Anh là chiến sỹ Giải phóng quân/ Tên Anh đã thành tên đất nước/ Ôi anh Giải phóng quân!/ Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt/ Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân”.
Cũng hy sinh trong cuộc tổng tiến công Mậu Thân còn có một nhà văn nổi tiếng thời bấy giờ, đó là Nguyễn Thi. Truyện ký “Người mẹ cầm súng” viết về nữ anh hùng Út Tịch đã đem đến cho Nguyễn Thi một dấu mốc rực rỡ trong đời cầm bút. Tác phẩm với câu nói bất hủ: “còn cái lai quần cũng đánh”, như một lời hiệu triệu cho muôn tấm lòng yêu nước dốc sức cho cuộc chiến anh dũng và kiên cường. Sau đó, Nguyễn Thi cho ra đời truyện “Mẹ vắng nhà” viết về câu chuyện 5 đứa con của nữ anh hùng Út Tịch cũng gây tiếng vang dữ dội. Một tác phẩm trong thời kì bom đạn rơi vãi khắp vùng đất Tam Ngãi, Cầu Kè, Trà Vinh không hề có cảnh máu đổ, chiến trường hay súng ống nhưng lại thao thiết một nỗi niềm khốc liệt. Trong sự hồn nhiên chờ đợi mẹ về thấm đẫm sự mong cầu bình yên cho đất nước.
Có thể thấy, dòng văn học chiến tranh chưa bao giờ nguôi đi sự nóng hổi trên mảnh đất hình chữ S này. Không ai trong chúng ta không nhớ bài thơ “Cuộc chia ly màu đỏ” của nhà thơ Nguyễn Mỹ, một liệt sĩ đã hy sinh trên chiến trường Quảng Đà năm 1971. Bài thơ như một bức tranh đẹp, được pha bởi những gam màu nóng hổi, màu của thế cuộc khi ấy đang sục sôi lòng người. Những câu thơ xưa cũ ngày đó vẫn nhói buốt tim người khi đọc lại: “Và người chồng ấy đã ra đi/ Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế/ Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ/ Gió nói tôi nghe những lời thì thào/ Khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau”. Lý tưởng sống của chàng thanh niên ngày ấy như thay lời cho biết bao câu chuyện hy sinh tình riêng vì nỗi lo chung của dân tộc. Bài thơ dạt dào cảm xúc, mới lạ thi ảnh, ra đời những năm 60 đã được nhà thơ Xuân Diệu khen hết lời và giới thiệu trên báo Văn Nghệ. Với những đóng góp xuất sắc cho nền văn học nước nhà, năm 2007 ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật.
Cuộc kháng chiến thành công nối liền Nam Bắc về chung một bờ cõi nhưng sự đánh đổi và mất mát không thể nào nguôi ngoai dẫu đã nửa thế kỉ trôi qua. Những áng văn thơ để lại của những liệt sĩ như một minh chứng quý báu cho sự khốc liệt nhưng tỏa rạng lòng trung với tổ quốc. Còn đó những cái tên của những người vừa cầm bút vừa cầm súng mà hàng trăm năm nữa sử sách Việt luôn khắc ghi như Nam Cao, Trần Mai Ninh, Thôi Hựu, Thâm Tâm, Nguyên Hồng, Hoàng Lộc, Dương Thị Xuân Quý, Trần Quang Long…
Những nhân chứng sống của thi ca
Với người trở về, dẫu chẳng vẹn nguyên, nhưng ký ức chiến tranh như một từ trường đầy mãnh lực khiến họ thao thiết trở mình trong từng trang viết. Những thương binh cầm bút chính là nhân chứng sống quý giá với thi ca nước nhà. Với chấn thương được thẩm định ¾, chàng thương binh Trần Quốc Thực nhìn thanh bình bằng tất cả những niềm tin yêu. Ông dùng thi ca như lời ngỏ cho sau tất cả những khói lửa đau thương mà đời mình nếm trải. Nếu tổ quốc đặt trên vai người thanh niên thời khói lửa thì có thể ngày về, người mẹ chính là niềm yêu thương vô bờ của bất kỳ người lính nào. Mẹ như nguồn sống, như động lực để trở về và gắng gượng vượt qua sinh tử chiến trường: “Mẹ ơi, âm dương cũng nhà ta/ Ai làm mẹ đau, con từ mặt/ Mẹ ơi âm dương không chia xa/ Thỉnh thoảng mẹ về, con đỡ khuyết…”. Mãi cho đến ngày người thương binh ấy về lại với đất để cùng đồng đội hát khúc quân hành thì dự cảm của nhà thơ vẫn đủ sâu sắc khiến độc giả văn chương không thể nào lãng quên một tài hoa trong thi đàn Việt: “Tiễn nhau một bận qua bậu cửa/ Tiễn nhau lẫn nữa trong chiêm bao/ Xa ngoắt ngõ xanh bạn biến khuất/ Tôi đã gói khăn ở kiếp nào.”.
Cũng là thương binh ¾, nhà LLPB Đỗ Ngọc Yên, còn có bút danh Huyền Vân, Viên An, trở về sau cuộc tử sinh đầy ly kỳ mà văn chương là cứu cánh cho cuộc đời ông. Cuộc chiến đấu bảo vệ tuyến đường chi viện chiến trường miền Nam ở Nam Lào diễn ra vô cùng ác liệt. Trong một trận chiến đấu, Đỗ Ngọc Yên bị thương, một mảnh đạn xuyên qua cổ làm nó rách toác. Vết thương tuy nguy hiểm nhưng cổ ông vẫn còn nguyên khí quản, thực quản bị tổn thương khá nặng. Năm 1974 ông xuất ngũ, học khoa Văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1978 tốt nghiệp, rồi về làm cán bộ nghiên cứu Viện Triết học tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam rồi chuyển về làm phóng viên, biên tập viên báo Sức khỏe và Đời sống thuộc Bộ Y tế đến khi nghỉ hưu. Suốt 10 năm trời (1971- 1981), năm nào ông cũng lên bàn mổ.
Hay như Vũ Ngọc Thư, người thương binh 2/4, ông dùng chính ký ức về một “miền Đông gian lao mà anh dũng” ấy để kể lại cuộc chiến bằng tất cả cảm xúc và sự trân trọng. Trong tập truyện ngắn mới nhất của mình mang tên “Nơi đỉnh rừng nghiêng nắng”, Vũ Ngọc Thư dắt độc giả đi từ T13 ra T12, nghe tiếng F105 gầm rú giữa bạt ngàn nắng xanh trên dãy Trường Sơn. “T12 là vậy đó anh. Sáng đi mà không biết mình có còn về lại hay không.”. Lời cô giao liên nhẹ tênh giữa “quầng lửa bừng sáng, tiếng nổ như tiếng sét chát chúa, đất đá bay lấp xuống người”. Chiến tranh ác liệt thổi tung bay những thân phận. Cùng một dòng máu, cùng một tiếng nói nhưng người bị thổi về bên này, kẻ bị dạt về bên kia. Bên nào thì cũng vậy, như đôi bàn tay lật trái hay ngửa phải cũng là thịt. Cô giao liên Lụa, anh chiến sĩ Thành, người nữ chiến sĩ Loan hy sinh không một mảnh thịt vẹn nguyên, cô Mấm còn sống sót bởi tình người trỗi dậy, hay chàng chiến sĩ phía bên kia đã dùng cả băng đạn để bắn người bạn chiến đấu khi giở trò thú tính với cô giao liên… nhân vật và tình tiết ăm ắp những rung cảm. Góc nhìn của người cựu binh khi đã ngót ngét 80 tuổi đời đầy sự trắc ẩn và nhân văn.
Còn đó rất nhiều thương binh vẫn miệt mài cầm bút để lưu lại trang viết đời mình những câu chuyện mà người trẻ ngày nay khi đọc lại vẫn rưng rức lòng mình như: nhà văn, thương binh ¼ Sơn Tùng, hay nhà thơ, thương binh ¼ Thành Đồng, nhà thơ thương binh ¼ Nguyễn Toàn Thắng…
Biến thiên thời cuộc đổi dời, năm mươi năm qua, nước nhà nối liền một dải, bờ cõi chẳng còn giới tuyến, văn chương của người lính như những đóa hoa bất diệt trôi bất tận trong dòng chảy văn học nước nhà.
Tổng Phước Bảo















