Phan Đăng Lưu sinh ngày 05/5/1902 trong một gia đình nhà nho có truyền thống yêu nước ở thôn Đông, xã Tràng Thành (nay là xã Hoa Thành), huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An – một vùng đất giàu truyền thống văn hóa, cách mạng. Thuở nhỏ, với bản tính thông minh, ham học, Phan Đăng Lưu theo học chữ Hán, sau học chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm, từng là Ủy viên Ban Thường vụ Xứ ủy Trung kỳ (1937), Ủy viên BCH TƯ Đảng (1940). Ông hy sinh ngày 26/8/1941, sau khi nhận nhiệm vụ vào Nam hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nhưng không thành. Phan Đăng Lưu là một trí thức tài đức vẹn toàn, suốt cuộc đời ông sống, chiến đấu vì mục tiêu giải phóng Dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, đem lại ấm no, hạnh phúc cho dân.
Nhân kỷ niệm 123 năm ngày sinh nhà tiền bối cách mạng Phan Đăng Lưu, Tạp chí Sông Lam xin giới thiệu một giai thoại về ông.

Ở quê, nhiều người vẫn còn kể cho nhau nghe những chuyện có thật về bài thơ của Phan Đăng Lưu dán trước cổng làng khi ông còn là một học sinh; nhưng ít người biết tường tận về một số chi tiết trong bài thơ, chẳng hạn chi tiết về “miếng hoa cà” trong hai câu thơ: “Mất phần tri hộ trương gân nạt/ Hỏng miếng hoa cà lộn tiết lên”.
Chuyện kể, trong dịp dân làng làm lễ Kỳ phúc (cầu đảo cho được phúc) năm 1918, khi đó, Phan Đăng Lưu mới 16 tuổi, đang học ở Vinh. Về quê nghỉ hè, sau khi chứng kiến chuyện cường hào trong làng tranh giành miếng ăn rồi nạt nộ nhau to tiếng, Phan Đăng Lưu đã bí mật dán ở cổng làng và nhiều địa điểm khác như cây đa, cổng đình, điếm tuần… bài thơ như sau:
“Sông Dinh núi Gám cảnh thần tiên
Bị bọn cường hào đến đảo điên
Ăn uống sình nang quân đít đỏ
Gánh gồng trễ cổ bạn dân đen
Mất phần tri hộ trương gân nạt
Hỏng miếng hoa cà lộn tiết lên
Sâu mọt lũ kia chưa quét sạch
Xóm làng khôn hưởng cảnh bình yên”.
Bài thơ gây xôn xao dư luận trong và ngoài làng. Bọn cường hào, chức sắc địa phương tức lắm nhưng không làm gì được, người dân thì thích thú truyền miệng nhau bài thơ, vì vậy mà nó có sức lan tỏa và ý nghĩa rất lớn.
Đến bây giờ, sau hơn một thế kỷ, nhiều người vẫn còn nhớ bài thơ và truyền miệng nhau chuyện mấy ông chức sắc, chức dịch nạt nộ nhau vì miếng ăn được đề cập trong bài thơ. Và chi tiết đắt nhất là chuyện “miếng hoa cà”.
“Miếng hoa cà” theo cách gọi dân gian là cái dái bò. Khi đó, ông Tri hộ không được phần như ý thì trương gân nạt nộ, cùng lúc đó, ông Hương bộ không được ăn miếng dái bò (hoa cà) nên cũng “lộn tiết lên”. Câu chuyện nói lên thực trạng xâu xí tại một làng quê ở Yên Thành và cũng là thực trạng của nhiều địa phương trên cả nước trước cách mạng. Bọn quan lại cường hào thì tranh giành nhau lợi lộc còn cuộc sống của nhân dân thì lầm than vì phải còng lưng nuôi béo chúng. Câu chuyện cũng cho ta thấy tài năng thơ ca, sự bộc trực trước cái xấu, cái ác của một thiếu niên xứ Nghệ mà sau này cậu sớm trở thành nhà hoạt động cách mạng, nhà yêu nước của dân tộc.
Phan Xuân Hậu















