Chiều ngày 25/3/1975, Lễ mít-tinh kỷ niệm 44 năm thành lập Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh (năm 1976 đổi thành Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh) tiến hành tại Trụ sở Bộ tư lệnh Pháo binh (phố Đội Cấn, Hà Nội). Kết thúc buổi lễ, đại diện lãnh đạo lên diễn đàn công bố Quyết định Bộ Tư lệnh thành lập “Đoàn công tác làm nhiệm vụ đặc biệt của binh chủng”. Đoàn gồm 38 sỹ quan là kỹ sư cùng 4 hạ sỹ quan phục vụ Đoàn, do Thượng tá Phan Đình Hòe – Thủ trưởng cơ quan Hậu cần binh chủng, làm trưởng Đoàn, còn lại là sỹ quan trung cấp từ Thượng úy đến Trung tá, hầu hết là Kỹ sư về xe, pháo, xăng, dầu các loại, đào tạo từ Liên Xô và các nước Đông Âu và từ lò Đại học Bách khoa Hà Nội. Các anh sỹ quan gắn cho tôi biệt danh “của hiếm” biết sử dụng 3 loại: đại xa (xe cỡ lớn như Krat, Bòma); trung xa (xe cỡ vừa như ZiL 157, CA30 Hồng Hà); khinh xa (các loại xe con, mô tô 3 bánh, 2 bánh). Chuyện là, cơ quan Bộ Tư lệnh Pháo binh được trang bị chiếc Ural 3 bánh của Liên Xô mới toanh, vì thiếu người lái khinh xa nên chiếc Ural được kê cao kích bổng đứng canh kho. Ngày ấy, Trường lái xe Pháo binh đào tạo lái đại xa, trung xa, xe xích (chuyên kéo đại pháo). Sau khi lấy bằng đại xa, trung xa, tôi cầm quyết định về Đoàn Vận tải thuộc Binh chủng Pháo binh. Giữa tháng 11/1972, đơn vị gửi tôi sang “học ké” lấy thêm bằng lái khinh xa tại trường đào tạo thuộc Bộ Tư lệnh Công an vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng), đóng ở thị xã Sơn Tây – “thủ đô của lính”.
Thượng tá Phan Đình Hòe thông báo sau khi xuống Kho Quân nhu ký nhận quân tư trang cá nhân cho đợt công tác dài ngày, cán bộ chiến sĩ Đoàn công tác đặc biệt chúng tôi được “tùy nghi di tản” lo việc cá nhân. Sáng mai (26/3/1975), đúng 6 giờ Đoàn có mặt tại sân bóng cơ quan Bộ Tư lệnh để lên xe vào chiến trường.
Cất đặt xong những thứ quân tư trang vừa nhận, tôi mượn chiếc xe đạp Phượng Hoàng xích hộp của đơn vị trang bị cho cậu tiếp phẩm, lao như tên bắn đến Ký túc xá Mễ Trì chia tay cậu Trần Vân Nam (em ruột mẹ tôi). Một mình cậu trong gác xép dãy Nhà C5 dành cho giảng viên của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tôi nhờ cậu cất giữ mấy thứ giấy tờ cần thiết, nhờ cậu điện báo tin để bố mẹ tôi hay tin tôi đã vào chiến trường và chưa biết khi nào ra. Suốt đêm 25 rạng 26/3/1975, tôi nghỉ lại Ký túc xá Mễ Trì, tiếng là nghỉ nhưng thực tế tôi có một “đêm trắng” cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Tảng sáng, 4 giờ 30, tôi kịp lục giá sách mượn cậu cuốn “Nguyên lý Mỹ học Mác-Lênin” mang theo để tranh thủ khi rỗi rãi đọc mà hiểu chút nào hay chút ấy. Chừng 5 giờ, chiếc Phượng Hoàng xích hộp lao như tên bắn đưa tôi về đơn vị trước 15 phút so với quy định. Ba chiếc xe tải chở người và vật dụng của Đoàn chúng tôi ra tới quốc lộ 1A đoạn qua ga Văn Điển, đã mất hút giữa dòng xe dòng người, dòng cờ đỏ sao vàng, băng rôn khẩu hiệu rợp đất rợp trời cuồn cuộn vào Nam. Ngày đi đêm nghỉ, vào lúc 16 giờ ngày 27/3/1975, Đoàn chúng tôi có mặt trong trại Trần Cao Vân từng là bản doanh của Bộ Chỉ huy vùng I chiến thuật quân lực VNCH. Căn cứ quân sự này được báo chí Sài Gòn bấy giờ tung hô “Việt cộng bất khả chiếm”. Thiếu tướng Lê Tự Đồng – Tư lệnh mặt trận Thừa Thiên – Huế, kiêm Chủ tịch Ủy ban Quân quản Thừa Thiên – Huế, lần lượt bắt tay Thượng tá Phan Đình Hòe và các sỹ quan kỹ sư của Đoàn, ông phấn khởi nói:
– Trận lớn này ông Tuế (tức Thiếu tướng Doãn Tuế khi đó) Tư lệnh Trưởng pháo binh không lo đói pháo đói xe nữa mô, ngay cả “vua chiến trường” là của hiếm cũng có. Huế đang mong các lực lượng tăng cường về kỹ thuật sớm có mặt giúp anh em Huế lo việc lớn. Nhiệm vụ rất nặng nề, bề bộn, khẩn trương, anh em mình trong khi chăm sóc các “vua chiến trường” luôn nêu cao cảnh giác với bom mìn do địch cài lại.

“Vua chiến trường” là biệt danh do lính Mỹ nghĩ ra nhằm tung hô cỗ đại pháo tự hành 175mm. Khi “vua” nằm một chỗ, cái nòng bạch tuộc dài tới 9.15m xoay 360 độ phun lửa ra bốn phương tám hướng. Đường kính bên trong nòng cỡ thấp bé nhẹ cân như tôi dễ chừng chui lọt, với tính năng công năng như thế, cỗ pháo tối tân hiện đại này cũng xứng với biệt danh “vua chiến trường”. Năm 1965, “vua” theo bộ binh Mỹ sang miền Nam Việt Nam, sau đó được cải tiến lắp thêm chiếc bàn đế (như bàn chân) nặng cỡ chục tấn để tự hành trên địa hình đầm lầy. “Vua” từng tác oai tác quái, uy phong lẫm liệt ngỡ là “vô đối”. Cũng vì ngọc thể của “vua” đồ sộ như thế, nên đến lúc cả thầy cả thợ bỏ chạy giữ người thì “vua” càng đồ sộ càng là của nợ.
Sau Hiệp định Paris năm 1973, quân đội Mỹ về nước mang theo “gỗ về rừng”, vẫn để lại cho quân đội của ông Thiệu hàng chục khẩu làm bùa hộ mệnh. Quân lực VNCH đưa “vua” ra trấn giữ vùng I chiến thuật và cao nguyên Trung phần – nơi được coi là cửa ngõ và nóc nhà của chiến trường Nam Việt Nam. Một trong những sai lầm không gì cứu vãn của quân lực VNCH là quá vênh vang ỷ vào vũ khí, đến phút chót họ mới nhận ra “vua chiến trường” không phải là tấm bùa hộ mệnh để đè bẹp pháo binh “Việt cộng”.
Trung tuần tháng Tư, núi đồi Thừa Thiên khô cong vì nắng nóng. Tôi được Đoàn trưởng phân công chuyên lái chiếc Jeep (chiến lợi phẩm nhặt ở cảng Thuận An) để đưa đón mấy chục kỹ sư pháo binh đi làm nhiệm vụ thuốc thang chạy chữa cho “vua” sống lại. Suốt ngày các sĩ quan của đoàn phơi mưa phơi nắng ngoài trời, vật lộn với triệu chứng bất động của “vua”. Sau mươi ngày kết quả vẫn lộn tùng phèo bởi các sĩ quan kỹ thuật của ta bỡ ngỡ với công năng kỹ thuật vũ khí hiện đại của địch. Đã lỡ tháo ra thì phải lắp lại, mặt mũi chân tay các kỹ sư sĩ quan lấm lem dầu mỡ, nước da đoàn “lính cậu” từ Hà Nội vào dễ bắt nắng nom càng giống nước da ngăm ngăm của trai xứ Huế. Mấy “vua” vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, không chịu nhúc nhích cử động, dòng chữ màu trắng “vua chiến trường” chạy suốt chiều dài nòng pháo như càng thách đố, khiến các sỹ quan kỹ thuật trong Đoàn điên tiết, mấy bữa liền không ai nuốt nổi cơm.
– Ngày trước ông Trần Huy Liệu thay mặt chính quyền Cụ Hồ vào Huế buộc Vua Bảo Đại thoái vị, lẽ nào chúng mình lại chịu bó tay với “vua chiến trường”- tù binh này?
Ví von khập khiễng của một Đại úy kỹ sư làm cả đoàn bóp bụng không dám cười to. Chiến dịch cuối cùng của cuộc giữ nước bi hùng đang cuồn cuộn phía trước, Bộ Tư lệnh mặt trận Thừa Thiên – Huế cử một tốp sĩ quan kỹ thuật sang trợ giúp đoàn cũng không tìm ra căn bệnh bại liệt, không chịu khởi động của “vua”. Không khởi động được thì không thể vận hành đưa “vua” vào cảng Đà Nẵng xuống tàu ra Bắc. Tôi ngẫm ngợi, khốc liệt chiến tranh không chỉ diễn ra nơi bom gầm đạn réo, mà còn tiềm ẩn trong cuộc đấu trí so tài phía sau tiếng đạn réo bom gầm.
Sáng 8/4/1975 (ngày thứ 12 vào công việc), Đoàn chúng tôi gặp may: trong đống giấy tờ bỏ lại tại khu gia binh Bộ Chỉ huy Vùng 1 quân lực Sài Gòn, chúng tôi bắt gặp họ tên mấy nhân viên kỹ thuật pháo binh của đối phương, Thượng tá Trưởng đoàn lệnh phải tìm gặp được họ càng sớm càng tốt. Chúng tôi hỏi tìm đến 3 địa chỉ ở trong thành Huế thì đều “vườn không nhà trống”, cũng vì rất nhiều anh em thuộc quân lực VNCH quá sợ “một cuộc tắm máu”, đã, cuống cuồng mang vợ con vào Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, Sài Gòn,… cuối cùng đều bị mắc kẹt lại, màn trời chiếu đất ngay trên đất nước mình, quê hương mình.
Trưa ấy tôi vào chợ Đông Ba ăn chè lam của mệ Huế bán trước cổng chợ, tôi lân la hỏi mệ, được mệ cho biết có ông Trung sĩ Nhất chuyên sửa chữa “vua chiến trường”. Anh ta cùng vợ con ở lại quê, khu vực núi Ngự Bình ngoại thành Huế, mệ biết rứa vì chị vợ anh ta thỉnh thoảng vô đây ăn chè lam của mệ. Cầm cái địa chỉ không cụ thể, tôi lái chiếc Jeep chở hai anh kỹ sư rời trụ sở Ủy ban Quân quản, qua cầu Tràng Tiền về hướng sân bay Phú Bài, khởi đầu cuộc đáy bể mò kim. Ngồi trong chiếc Jeep mui trần ngược chiều gió nồm ràn rạt, mặt trời chiều dần nhạt nắng, qua gương phản chiếu tôi thấy anh Đại úy kỹ sư lấy mảnh dù choàng che cổ vẻ lo lắng:
– Sáng nay từ Hà Nội điện vô, nội tuần tới phải hộ giá một “vua” vô cảng Đà Nẵng để tàu Hải quân ta chở ra Bắc. Nếu không kịp thì Thượng tá Đoàn trưởng cử 5 kỹ sư nằm lại với tôi canh giữ mấy “vua chiến trường” rải rác trên đại ngàn Thừa Thiên – Huế, Đoàn công tác đặc biệt tiếp tục hòa trong cơn lốc đang cuồn cuộn hướng vô Sài Gòn là điểm đến cuối cùng.
Tôi đoán đó là mệnh lệnh của Đoàn trưởng, chúng tôi phải quân lệnh như sơn. Rõ ràng các sỹ quan kỹ sư không thể không lo lắng với bài toán khó, gần hai tuần rồi mà chưa tìm ra lời giải. Ngót chục lần dừng xe hỏi đường, cuối cùng chiếc Jeep từ từ dừng trước căn nhà nhỏ lợp ngói khuất sau giàn thiên lý. Tôi nôn nao nhớ nhà vì cũng có giàn thiên lý giống như này, ngày nào mẹ cũng sai anh em tôi hái búp thiên lý cho mẹ nấu canh với mấy râu mực phơi khô, còn thân mực phơi khô thì giao nộp cho hợp tác xã đánh cá mang tên Ngư Phong để hoàn thành nghĩa vụ sản phẩm.
Hai kỹ sư ngồi ngoài xe để mình tôi vào nhà trước thăm dò. Thiếu phụ đang bón cơm cho đứa bé chừng hai tuổi, quanh mâm còn 3 đứa nhỏ gần bằng đầu nhau:
– Xin lỗi chị, cho hỏi anh Quyền có nhà không?
Tôi nhìn đĩa rau muống luộc vừa được vớt ra còn bốc khói. Thiếu phụ buông đũa nhìn tôi vẻ sợ hãi:
– Thưa “ông” giải phóng, nhà em “lên” chính quyền cách mạng trình diện chưa về. Anh ấy đi lính quốc gia nhưng không cầm súng bắn người, mong các ông tha cho.
Từ hôm vào đây tôi đã phải nghe các mệ, các chị ở Huế gọi bộ đội mình là “ông” và tự xưng “con”, nghe lắm quen tai, nay tôi không còn ngỡ ngàng với cách xưng hô như vậy của chị. Đoán biết thiếu phụ chưa hiểu mục đích của vị khách không mời đột ngột đến nhà chiều nay, tôi chủ động ngồi xuống tấm phản và chậm rãi nói để chị yên tâm: “Ngoài tôi ra còn có 2 ông sĩ quan quân giải phóng đang ngồi ngoài xe. Chúng tôi biết anh Quyền là nhân viên kỹ thuật pháo tự hành 175mm nên tìm đến nhờ anh giúp việc. Đây là cơ hội để cho anh lập công với chính quyền cách mạng. Chị đừng tin vào lời lẽ tuyên truyền của quân lực Sài Gòn. Chiến tranh sắp kết thúc, cảnh đầu rơi máu chảy 20 năm ròng sắp kết thúc, đồng bào mình sắp được sống chung một nhà mang tên Việt Nam thống nhất. Từ hôm nay xin chị đừng gọi chúng tôi bằng “ông”. Quân giải phóng là con em của Nhân dân, vì Tổ quốc, vì Nhân dân mà đành rời xa gia đình quê hương, xa người yêu, bạn bè mà vào chiến trường để tham gia dập lửa xâm lăng.”
Sắc mặt thiếu phụ bình thường trở lại, chị mở tủ lạnh lấy ra cốc nước lọc và mấy que cà-rem (kem) trắng muốt mời tôi. Trong khi ăn cà-rem, tôi ngẩng lên cái gác xép làm bằng gỗ khuất sau tấm ri đô vải hoa, thấy vậy thiếu phụ lên tiếng:
– Ba nó à, các “eng” giải phóng đến gặp có việc.
Người đàn ông da ngăm đen, tóc hơi xoăn, khuôn mặt bầu bầu, ria mép lởm chởm lâu ngày không cạo, rời gác xép bằng chiếc thang giây xuống chào khách, rồi nói với vợ:
– Em ra xe mời hai ông lớn vào nhà nói chuyện.
Thiếu phụ trở vào nhà, chị nhẹ nhàng rót cà phê pha sẵn vào 2 chiếc ly vừa bổ sung, bóc gói kẹo mè xửng bày lên chiếc bàn nhỏ. Hai sỹ quan kỹ sư nói rõ công việc của Đoàn yêu cầu anh cộng tác, và bảo tôi ra xe lấy mấy gói lương khô A74 cho mấy đứa nhỏ. Chúng nhìn tôi không còn vẻ sợ hãi ban đầu, tay vẫn cầm phong lương khô tôi trao mà không dám bóc, nhưng khi thiếu phụ tự tay bóc đưa cho con thì chúng ăn ngon lành. Anh Đại úy kỹ sư hỏi:
– Anh Quyền sao không theo mấy đồng nghiệp chuyên môn di tản để nay không biết kẹt ở mô?
Quyền lúng túng gãi đầu như học trò gặp bài toán khó:
– Em nghĩ, phía giải phóng nếu rắn thì cũng chỉ rắn với những kẻ gây nợ máu với dân. Lính kỹ thuật tụi em ở hiền gặp lành, các ổng giải phóng không rắn với người chạy lại, phải thế không ạ?
Quyền rủ rỉ rù rì làm cho ba chúng tôi suýt bật cười. Trước khi ra xe, Đại úy kỹ sư nói với vợ chồng Quyền:
– Cải huấn là việc bắt buộc áp dụng đối với binh sỹ quân lực Sài Gòn. Từ việc chuyên môn kỹ thuật, chính quyền cách mạng yêu cầu anh Quyền cộng tác với chúng tôi, chúng tôi muốn chị động viên anh ấy yên tâm, nếu anh hoàn thành với kết quả tốt, Thủ trưởng Đoàn chúng tôi sẽ đề nghị chính quyền Cách mạng miễn cải huấn cho anh.
Đúng hẹn, chiều hôm sau Quyền nhờ một thanh niên đi xe Honda 67 màu đen chở đến điểm đóng quân của Đoàn tại Nhà thờ họ Nguyễn Khoa, bên cạnh chùa Bà La Mật trên đường Huế – Thuận An. Quyền với đôi mắt quầng thâm thiếu ngủ, gương mặt rạng rỡ, anh bảnh bao trong bộ thường phục nguyên nếp là. Tôi đoán, cộng tác với những người mà vài tuần trước còn là đối thủ của nhau, âu là việc hệ trọng, suốt đêm qua Quyền trằn trọc không ngủ nổi cũng là dễ hiểu. Quyền run run nhận bộ áo quần bảo hộ lao động màu xanh chúng tôi mang từ Hà Nội vào, loáng cái anh đã trong bộ trang phục mới rộng thùng thình nom thật ngộ. Ngày 18/4/1975, Quyền đâu ngờ… trong khi bao “chiến binh cộng hòa” đang mang theo vợ con tháo chạy không biết sống chết thế nào, thì tại cố đô Huế, trang mới cuộc đời đã mở ra với vợ chồng Quyền. Sau một tuần hướng dẫn cả về lý thuyết lẫn thực hành, các sỹ quan kỹ sư của Đoàn đã trị được chứng bất động của “vua chiến trường”. Thượng tá chỉ huy Đoàn công tác đặc biệt cử một tốp 3 kỹ sư cùng Quyền điều khiển một “vua chiến trường” xuống tàu Hải quân ta tại Đà Nẵng ra Bắc.
Ngày 2/9/1975, tại cuộc duyệt binh quy mô chưa từng thấy trên quảng trường Ba Đình – Hà Nội, tôi dò hỏi và gặp lại anh Quyền đang đứng xem duyệt binh cùng mấy cán bộ khung của Trường sỹ quan Pháo binh (còn có tên là trường 400). Anh Quyền đeo hàm thiếu úy Quân đội nhân dân Việt Nam, anh tiếp tục đảm trách việc khám chữa bệnh cho mấy tù binh “vua chiến trường” đã thành giáo cụ thực hành của học viên sỹ quan Pháo binh. Trường đào tạo sỹ quan Pháo binh cũng đóng tại “thủ đô của lính” – thị xã Sơn Tây của nước Việt Nam thống nhất.
Giao Hưởng















